Ca khúc Chiều Vàng và nỗi buồn còn lại..


 

OCHID LÂM QUỲNH là ái nữ của nhà thơ Du Tử Lê và Hạnh Tuyền hiện đang sống tại Mỹ. Trong dịp về Việt Nam, Quỳnh đã tìm gặp được một số bà vợ của các văn nghệ sĩ nổi tiếng, và đã ghi lại những cuộc trò chuyện cùng họ với một giọng văn giản dị, chân thực và thông minh. Sưu tầm giới thiệu cùng các bạn bài ghi chép dưới đây của chị về phu nhân của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, tác giả các ca khúc nổi tiếng một thời như “Chiều Vàng”, “Nỗi Lòng”, “Nghệ Sĩ với Cây Ðàn”…


 

Sau nhiều cố gắng tìm kiếm, với những giúp đỡ tận tình của nhiều nhân vật trong giới văn nghệ sĩ của Hà Nội cũ, tôi vẫn không gặp được bà Nguyễn Văn Khánh. Người phụ nữ được ghi nhận là nguồn cảm hứng dẫn tới việc ra đời một số ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, như “Chiều Vàng”, “Nỗi Lòng” hay “Nghệ Sĩ với Cây Ðàn”… Tôi đã đinh ninh mình sẽ phải sắp xếp thời gian, công việc để trở lại
Hà Nội một lần khác nữa.

Lý do mạnh mẽ nhất, thôi thúc tôi phải gặp bà cho bằng được, có lẽ vì những điều tôi nghe được từ phần đời thường lặng lẽ, ơ hờ, tưởng chừng tẻ nhạt, kéo dài trên nửa thế kỷ của bà, chỉ là cái phần biểu bì, cái phần ngoài da, che đậy chịu đựng… Ở lãnh vực này, tôi nghĩ, có phần vượt trên mức hy sinh, chịu đựng của bà Tú Xương!

Sự ơ hờ hay tẻ nhạt của một đời người, tôi trộm nghĩ, nó cũng giống như cái biểu hiện bề mặt của hiện tại một địa danh từng một thời nổi tiếng. Cũng hệt như những du khách đến với Hà Nội hôm nay, trong cung cách “cưỡi ngựa xem hoa,” sẽ chẳng ghi nhận được gì nhiều, ngoài khu Phố Cổ, một số thắng tích đã xuống cấp như Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, chùa Một Cột, đê Yên Phụ, chùa Quán Sứ…

Như mẹ tôi từng bảo tôi rằng, bất cứ một đế đô, một thành phố lịch sử nào trên thế giới, đều bị bụi, rác thời gian xóa nhòa, vùi lấp mọi hào quang quá khứ. Chỉ khi nào ta lắng lòng, đào xới dĩ vãng, khi đó, ta mới có thể bắt gặp những trầm tích, hay những kết tinh quý giá làm thành lịch sử nghìn năm của địa danh ấy. Với cá nhân tôi, trường hợp bà Nguyễn Văn Khánh, nhũ danh Ðặng Thị Thuận, có lẽ cũng là một điều gì tương tự…

Qua chuyện kể và, nhất là qua những chi tiết tôi được nghe từ ông bà Hoàng Giác / Kim Châu, thì đằng sau cái đời thường lặng lẽ, ơ hờ, tưởng chừng tẻ nhạt của bà Nguyễn Văn Khánh / Ðặng Thị Thuận, là cả
một không gian dữ dội ngậm ngùi, đắng cay… tới độ tôi không dám tin có thật!

Vì thế, tôi nghĩ “trời có mắt,” khi buổi chiều, định soạn hành lý, để trưa hôm sau, ra phi trường, trở về Cali, thì một nhân viên khách sạn, đưa cho tôi tờ giấy viết tay của nhạc sĩ Hoàng Giác. Ông viết:

“Cháu Quỳnh,

“Ðã tìm được địa chỉ của vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, có người tình nguyện đưa các cháu đến gặp gia đình tại ngõ Khâm Thiên. Sáng nay sang tìm cháu không gặp.

Vậy cháu về thì hãy sang bác để gặp người họ hàng tới trực tiếp gia đình.”

Bác Hoàng Giác.”

Tôi và Hân, quyết định đổi vé, hoãn chuyến bay về Los Angeles.

***

Hôm sau, trời mới hừng sáng, chúng tôi đã rời khách sạn, tới nhà nhạc sĩ Hoàng Giác. Người phụ nữ tình nguyện dẫn đường cho chúng tôi, là một người trong gia tộc của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh. Cô sốt sắng, mau mắn và nhiệt tình. Tôi thấy giống như chúng tôi được đưa đi… “tìm trầm” vậy. Trên đường đi, nửa đùa, nửa thật, cô bảo, đường đến nhà nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, “Khó không thua gì đường lên…trời!”
Ðúng vậy! Tôi không nhớ chúng tôi được dẫn xuyên qua bao ngõ, trổ qua bao ngóc ngách dích dắt… Nhiều lần theo chân cô, rẽ vào những con ngõ rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho một người đi. Tôi không biết người ta sẽ phải làm gì, nếu chẳng may, đang đi, có một người ngược chiều?

Dường như cảm được thắc mắc của tôi, người hướng dẫn chúng tôi trên đường “lên trời,” hỏi tôi: “Cháu có biết chúng ta đang đi trên những đoạn đường hẹp này, gọi là gì không?”

Tôi đáp: “Không cô ạ!”

Cô bật cười, bảo: “Ở đây, người ta gọi là cái… ngách đấy!”

Tôi cũng bật cười, bất ngờ, thích thú. Hồi nào giờ, tôi vẫn nghĩ hai chữ “ngõ ngách” chỉ là một danh từ kép. Ngôn ngữ Việt có nhiều, rất nhiều những danh từ kép, như thế. Tôi nói ra với cô, sự “vỡ nhẽ” của mình, thay cho lời cảm ơn. Cô vui lắm. Cô nhắn nhủ: “Còn nhiều đều ở đây đáng cho con học đấy. Con phải về đây nhiều nhiều mới được.” Tôi đáp: “Vâng ạ,” và thấy “đường lên trời” dường như đã phần nào ngắn bớt.

Cuối cùng, như một phần thưởng xứng đáng cho lòng chân thành, tha thiết của mình, chúng tôi cũng tìm ra chỗ ở đầu tiên, và sau chót của tác giả “Nỗi Lòng.”

Tôi không biết cảm giác của Hân! Riêng tôi, ngay khi vừa bước chân vào căn nhà, như một di tích của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, tôi đã có cái cảm giác vắng vẻ, bùi ngùi… Nó rất gần với một ca từ, trong ca
khúc “Chiều Vàng” của ông: “Giờ đây viếng thầm hồn cố nhân – Năm tháng trôi theo sóng gió đời…”

Nếu tôi hiểu không lầm thì ca khúc này, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh viết gửi cho linh hồn một người yêu của ông, đã mất. (Hay ít ra thì, dù người đó vẫn còn sống, nhưng với ông, kể như đã quá cố…!) Ngoài cụm từ “…viếng thầm hồn cố nhân,” trước đó còn có một ca từ khác của ông, cho thấy tính cách này dứt khoát hơn, rõ ràng hơn nữa, đó là câu:

“Hồn em có cùng người chứng minh…”

Thêm ca từ này, tôi nghĩ người nghe có thể khẳng định rằng “cố nhân”hay “người xưa” của ông trong ca khúc đã đi khỏi cuộc đời này. Nếu suy nghĩ của tôi không sai, thì “Chiều Vàng” có lẽ là ca khúc đầu
tiên (và duy nhất?) của nền tân nhạc Việt Nam được viết cho một người tình đã chết.

Mấy chục năm sau, một người ngưỡng mộ tài hoa Nguyễn Văn Khánh, thuộc thế hệ 1,5 là tôi, đâu ngờ, khi có cơ hội tìm thăm ông; thì chính ông, tác giả, cũng đã từ lâu qua đời! Và tôi (chứ không phải ông,) tìm đến để thầm viếng linh hồn ông (chứ không phải linh hồn cố nhân của ông!)

Tuy thế, tôi vẫn thấy tôi may mắn. Tôi hạnh phúc hơn rất nhiều người khác. Ít ra tôi vẫn có cơ hội được gặp gỡ, được nhìn tận mắt, được chạm bằng tay vào xương thịt người bạn đời của ông: Bà Ðặng Thị Thuận. Bởi vì trước sau gì thời gian rồi cũng sẽ đem bà về bên kia thế giớivới ông. Cũng như thời gian đã đem đi khỏi cuộc đời này, khỏi chúng ta một Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Ðinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân, Văn Cao… Và, gần hơn, là một Phạm Ðình Chương, Lê Thương, Mai Thảo, Nguyên
Sa, Văn Phụng, Tạ Tỵ, Ðỗ Ngọc Yến…

***

Tiếp tôi trong căn nhà, nơi ở cuối cùng của tác giả “Nỗi Lòng,” là bà Nguyễn Văn Khánh / Ðặng Thị Thuận và, anh Nguyễn Mạnh Phú, trưởng nam của ông bà. Có thể vì có chung với nhau một mẫu số, là lòng yêu mến,
trân trọng tài năng người quá cố, nên dù chỉ là hàng con cháu, lại mới gặp lần đầu, nhưng chúng tôi đã được bà Nguyễn Văn Khánh đối xử với một tinh thần cởi mở, thoải mái. Giống như thể bà, cháu chúng tôi cùng hè nhau kể “chuyện xấu” người ông thân yêu, vắng mặt.

Ở tuổi 86, vào mùa hè, Hà Nội, 2006, bà Nguyễn Văn Khánh / Ðặng Thị Thuận đã tặng cho chúng tôi những nụ cười móm mém hồn nhiên, những sôi nổi, hào hứng qua giọng nói trầm, bổng.

Tôi cũng ghi nhận được, một cách hạnh phúc xen lẫn ngậm ngùi, khi đôi mắt già nua đục lợ; khi lớp da nhăn mưu sinh, đã lên nước thời gian; và luôn cả những sợi tóc mai bạc óng, phất phơ sót lại… chốc chốc lại ánh lên niềm hãnh diện, lấp lánh niềm hân hoan họa hiếm…

Tôi cũng hạnh phúc tới ước ao, phải chi những giây phút, những hình ảnh bất chợt tôi ghi nhận được từ nơi bà, sẽ mãi còn. Tôi muốn nói những lần bà lấy tay che…miệng! Cử chỉ tố cáo sự e thẹn, xấu hổ hay
mắc cỡ nơi bà! Ðó là những lúc bà cười lớn tiếng. Và, khi tiếng cười dội lại, có thể nó đã khiến bà giật mình, hoảng sợ? Ðó cũng là lúc, tôi chợt thấy hàm răng đen lánh, hạt huyền còn giữ được của bà, mới đẹp làm sao! Cử chỉ, hàm răng hạt huyền của bà Nguyễn Văn Khánh / Ðăng Thị Thuận, giúp tôi hiểu rõ hơn, thấy hay hơn, mấy câu ca dao sau đây:

“Năm quan mua lấy miệng cười,
“Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.”

Với những người của Hà Nội cũ, ở thập niên 1940, nhiều người, tới giờ còn nhớ thời đó, ở khu Khâm Thiên, có một thiếu nữ nổi tiếng về nhan sắc và giỏi giang, nết na, tên là Ðặng Thị Thuận. Khi ấy, dân số Hà Nội còn thưa thớt. Nên người con gái họ Ðặng đã sớm được nhiều gia đình thế giá ngắm nghía, cầu cạnh cho con trai họ.

Phần mình, Ðặng Thị Thuận lại không một chút bận tâm về đường chồng con. Bố tôi nói thời gian đó cũng là thời gian cơn bão Văn học lãng mạn Pháp đã thổi tới Việt Nam. Hàng ngũ theo Tây học gia tăng. Các phong trào vận động xã hội xóa bỏ xiềng xích giam cầm người phụ nữ Việt Nam, nói riêng; nếp sống của người Việt Nam, nói chung, vốn bị trói giam trong bốn bức tường Khổng giáo, được các nhà trí thức, nhất là giới văn nghệ sĩ nhiệt liệt, mạnh mẽ cổ võ. Ông bảo: “Ở lãnh vực văn học, ngọn cờ đầu của cuộc cách mạng xanh này, thuộc về nhóm Tự Lực Văn Ðoàn.”

Những tài năng, tên tuổi nổi bật ở ba lãnh vực: Thi ca, văn chương và âm nhạc, đã thắp lên những ngọn lửa ngùn ngụt hưng phấn, ngây ngất khuấy động hàng ngàn trái tim thiếu nữ mơ mộng, mới lớn. Những bài
thơ, những bản nhạc, những truyện ngắn, truyện dài… ngợi ca tình yêu đau khổ, đổ vỡ hay hạnh phúc, được các cô lén chép, dấu trong tập vở.

Hình ảnh văn nghệ sĩ, được các cô cất giữ giấu kín trong đáy tim… Thời gian đó, những văn nghệ sĩ nổi tiếng là hóa thân của những hoàng tử tài hoa và các cô gái mới lớn, yêu văn nghệ, là những công chúa ngủ
trong rừng… Nhưng người con gái họ Ðặng, không trong lớp người này. Nàng thuộc thành phần thiếu nữ bên ngoài, rất xa tâm bão. Nàng cũng không màng tới những trào lưu Văn học, Nghệ thuật phương Tây, đang thay da, đổi thịt Hà Nội. Nàng chỉ chú tâm vào việc giúp cha mẹ, chăm lo gia đình. Nhưng một khi duyên số cầm sợi dây hôn nhân, ràng buộc vợ chồng, tìm đến các thiếu nữ (nhất là thời đó,) thường ít người thoát khỏi.

Cho nên, đầu năm 1942, được bà dì mai mối cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, thoạt tiên, người con gái họ Ðặng đã lạnh lùng từ chối.Thậm chí, nàng cũng chẳng có cái tò mò lén coi mặt chàng trai đến nhà, cầu
hôn mình. Bây giờ, nhớ lại, với nụ cười móm mém hân hoan, bà Nguyễn Văn Khánh / Ðặng Thị Thuận kể tiếp:

“…Vì bà dứt khoát không chịu, nên bà đâu có coi mặt ông! Ấy vậy mà bà chị dâu của bà thì lại tò mò, hăng hái bảo với bà rằng: “Mày không chịu, nhưng cứ để tao ra coi cái mặt mẹt của nó xem sao…” Và, con biết không, chỉ ít phút sau, bà ấy chạy vào bếp, kháo với bà rằng, ‘Tao thấy mặt mũi nó được đấy, Thuận à.’ ”

Vì đã được coi ảnh nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh trước khi gặp bà, tôi bèn ngắt lời bà, “đế” một câu: “Chứ không phải bà đã biết rõ từ trước, là ông đẹp trai quá trời à? Bây giờ ông mất rồi, bà nói thiệt con nghe đi!”

Người bạn đời của tác giả “Chiều Vàng,” ở tuổi 86, cười thẹn lấy tay che miệng chối: “Ối dào! Bà mà nói dối cho trời chu đất diệt bà đi…”

Tôi vội ôm bà: “Bà ơi! Con chọc bà đó mà!”

Sau đấy, khi biết cha mẹ, các anh các chị trong nhà cùng “chấm” nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, người con gái họ Ðặng cuối cùng nhận lời lên xe hoa. Năm đó, bà nói: “Bà đúng 20 tuổi!”

Cuộc hôn nhân thuở ban đầu, không được khởi dẫn từ một tình yêu có trước. Nhưng, không vì thế mà, sau đó, người con gái họ Ðặng, một thời nổi tiếng nhan sắc khu Khâm Thiên, không yêu thương chồng. Trái lại. Bà kể, những năm đầu của cuộc hôn nhân, tác giả “Nỗi Lòng,”thường xuyên ở nhà. Ông tự tạo lấy cho mình một căn nhà nhỏ, như một không gian riêng, để làm việc.

Căn phòng, hay cái không gian riêng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, không xa ngôi nhà chính bao nhiêu. Nhưng nó lúp xúp, nhỏ bé như một cái hang. Nó lại được làm dưới gốc cây đa, cho nên sau này, mọi người
cũng như gia đình vàchính ông, cũng gọi một cách thân yêu là: “Cái Miếu.”

Theo lời kể của anh Nguyễn Mạnh Phú, trưởng nam cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh thì chính ở tại cái miếu kia, nhạc phẩm đầu tay, nhan đề “Thu” viết cho thân mẫu của anh, ra đời năm 1946. Kế tiếp, là những ca khúc như “Chiều Vàng,” rồi “Nỗi Lòng,” được thân phụ anh viết năm 1951.

Cũng thời gian này, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh đã viết ca khúc “Nghệ Sĩ với Cây Ðàn.” Anh Phú kể: “Bản nhạc ấy, ông viết sau khi đi Bắc Ninh, thăm một người yêu cũ, nhưng không gặp được…”
Cũng trong cái Miếu (bây giờ vẫn còn,) cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh đã sáng tác những ca khúc khác, tương đối cũng được nhiều người biết, như “Chiều Gặp Gỡ,” “Lời Thề Xưa,” hay “Tâm Sự với Cây Ðàn”…
Nhưng, điều mà bà Nguyễn Văn Khánh / Ðặng Thị Thuận hãnh diện, hạnh phúc kể cho chúng tôi nghe, là:

“Lúc ông ngồi viết nhạc trong miếu, bao giờ bà cũng là người ngồi sau, cầm quạt, quạt cho ông đấy, con ạ!”

Mặc dù, bà cũng không quên nhấn mạnh rằng, bà không biết gì về âm nhạc. Bà cũng chẳng quan tâm bao nhiêu tới các ca khúc của ông; ngoài ý thức tôn trọng chồng, tôn trọng công việc vàsự nghiệp của chồng.
Bên cạnh đó, bà cũng là người tần tảo, lặng lẽ tự lực nuôi ba người con bà có với ông.

Tính tới ngày 20 tháng 8 năm 1976, là ngày tác giả “Chiều Vàng” từ trần, Tôi không biết bà Nguyễn văn Khánh / Ðặng Thị Thuận đã được sống bên chồng bao nhiêu năm tháng! Ngay bà, khi được hỏi, bà cũng không
biết. Chỉ biết như bà kể, thì rất ít.

Bà nói, trong suốt 34 năm làm vợ tác giả “Nỗi Lòng,” trừ một thời gian ngắn, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh bị tù vì trốn lính thời Pháp thuộc; tổng số thời gian ông ở nhà chỉ khoảng một phần ba, hai phần ba của
quãng đời chồng vợ này là thời gian nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh rong ruổi theo những đam mê tình ái, với nhiều phụ nữ khác!

Một trong những phụ nữ khiến tác giả “Lời Thề Xưa,” quên bẵng lời… thề, bỏ nhà ra đi dài lâu nhất; đến độ đã có với người đàn bà đó 7 người con; là người phụ nữ tên Sâm, cô là một ca sĩ. Tôi đồ chừng, hình ảnh người đàn bà này, nhiều phần sẽ mãi ở trong ký ức phong phú chịu đựng, nhẫn nhục của bà Nguyễn Văn Khánh / Ðặng Thị Thuận.

Sở dĩ tôi có cho mình cảm tưởng này, bởi vì mùa hè năm 2006, dù đã ở tuổi 86, khi kể tôi nghe, câu chuyện về người phụ nữ có tới 7 con với chồng mình, bà Nguyễn Văn Khánh còn nhắc, từng tiếng: “… tên là Lê Thị Sâm!”

Bà cũng kể thêm rằng, ba năm trước khi tác giả “Chiều Vàng” qua đời, bà Sâm đã quyết liệt xua đuổi tác giả “Nỗi Lòng!” Không còn chọn lựa nào khác, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh buộc lòng phải trở về với vợ con; cùng chứng bệnh viêm quai hàm, giai đoạn cuối. Ðó cũng là thời gian thân phụ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh năn nỉ cô con dâu cả, họ Ðặng, đem hai đứa con nhỏ bệnh tật, quặt quẹo, còn sống
sót trong số 7 đứa con của kẻ “cướp chồng” mình về nuôi, “làm phúc.”

Không một ai biết được bà Nguyễn Văn Khánh / Ðặng Thị Thuận có thực tâm tự nguyện nuôi hai đứa con bệnh tật của “kẻ thù,” (chữ này của tôi,) lấy phước; hay chỉ vì nể lời cha chồng? Nhưng, mọi người đều
công nhận, nếu không có công sức chăm sóc ngày đêm, chạy chữa bác sĩ thuốc men… của bà, thì hai người con của bà Sâm chắc chắn cũng đã chung số phận ngắn ngủi như 5 anh chị của họ, trước đấy.

Trước việc làm cực kỳ nhân đức, cao thượng của mình, bà Nguyễn Văn Khánh đã rất chân thành, khiêm tốn khi nói: “Nhiều người bảo bà… ’mát’ tay nuôi con nhỏ…”

Anh Nguyễn Mạnh Phú kể thêm: “Mẹ tôi đã cứu sống hai đứa con riêng của bố tôi và người vợ lẽ như một phép lạ!”

Riêng bà Sâm thì đã từ trần năm 1979, khoảng trên dưới 3 năm, sau cái chết của thân phụ anh.

“Bà ấy không được thấy hai đứa con còn lại của bà ấy với bố tôi, nay đã nên người…” Anh Phú kết luận một cách hân hoan và tiếc rẻ.

Tôi không thể hình dung, và cũng không thể tưởng tượng, sau chừng đó cay đắng chịu đựng; sau chừng đó chập chùng ngậm ngùi, vậy mà mỗi lần khi tôi cố tình chọc ghẹo bà, bằng những câu hỏi lập đi lập lại nhiều lần; đại ý như “Bà có ghen với ông không?” “Ðã lần nào bà đi đánh… ghen chưa?” Hoặc, “Bà có biết bài này ông làm cho cô nào không?” Thì bao giờ bà cũng đáp, trước nhất bằng những nụ cười móm mém hồn nhiên, nét duyên dáng xưa cũ… Và sau đó là những lời nói ngắn gọn, dứt khoát.

Thí dụ như:
“Không.”
“Chả đời nào.”

Hoặc:

“Không.”
“Chả bao giờ!”

Hay:

“Không.”
“Tôi không ghen.”
“Tôi mặc kệ.”

Bà cũng kể, có lần các chị em bên chồng rủ bà đi đánh ghen…Nhưng bà từ chối. Bà bảo: “Ai đi thì đi. Tôi í à… tôi chả đi đâu hết!” Trước khi chúng tôi phải chia tay, bằng một giọng thản nhiên, với đôi
mắt đã đục nắng mưa, năm tháng, thỉnh thoảng, hướng về phía bàn thờ chồng, nơi mà sau di ảnh là bài hát “Nỗi Lòng,” do chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh kẻ nhạc, viết lời, bà tâm sự: “Vậy đó! Con biết
không, sau những năm tháng bỏ vợ, bỏ con đi biền biệt như thế, nhưng mỗi khi ông đau ốm hay bị chúng nó đuổi ra khỏi nhà, trở về với bà, bà vẫn lo cơm nước chu đáo cho ông. Mỗi khi ông ra ngoài cái miếu viết nhạc, hay làm gì đó, chớ bao giờ bà quên mang ra cho ông một chai rượu… Bà cũng không ngừng tay quạt cho ông đâu nhé! Dù cho bà chẳng biết, và cũng chẳng bao giờ hỏi ông viết gì?…”

Bà cho tôi cảm tưởng, nội việc bà là: “Bà Nguyễn Văn Khánh,” chừng đó thôi, đã quá đủ!

(May 2007)
Ochid Lâm Quỳnh

 
Chiều Vàng – Khánh Ly

6 Responses

  1. Bài viết hay quá! Người già thường hóm hỉnh và dùng từ rất hay đấy nhé! Thật khâm phục người phụ nữ Việt nam chúng ta.

  2. Đọc bài viết này tôi tự hỏi không hiểu người Phụ nữ ngày xưa họ học và lấy ở đâu ra năng lượng sống, nghị lực, sức chịu đựng phi thường đến kỳ lạ

    Trong tôi băn khoăn một cảm xúc không biết mình nên khâm phục ngưỡng mộ Bà (Đặng Thị Thuận) hay xót xa cay đắng cho phận đàn bà,
    rốt cuộc tôi nghĩ rằng; Bà chỉ đơn giản làm và sống như bà phải thế, tự nhiên như hơi thở, không cần phải rùm beng cho dư luận hay câm lặng đến “trầm cảm”.
    Tôi nghĩ, với cách sống và hành xử như vậy, Bà là Bồ tát giữa đời thường,

    • Hi Tâm,

      Ngày xưa đàn ông có quyền đa thê, cho nên các bà có thói quen để chồng có nhiều vợ. Cho đến ngày nay, chuyện đàn ông có vợ và có vài cô bồ vẫn được xem là chuyện thường,nhưng đàn bà có chồng mà có vài ông bồ thì không được. Đó là dấu tích của thời phong kiến còn sót lại năm 2011.

  3. Mình nghĩ chính xã hội thời ấy đã tạo nên một nhân cách phụ nữ như bà Nguyễn Văn Khánh – đó là xã hội đề cao và tôn vinh những người phụ nữ vì chồng, vì con, hi sinh vì gia đình – cho dù chồng có thế nào đi chăng nữa, đó là sự hi sinh hoàn toàn một chiều. Bà Khánh đã là người sống trọn vẹn với những giá trị của người phụ nữ thời bà – và làm cho những người phụ nữ thời nay ngỡ ngàng, thán phục. Mình nghĩ thời bà chẳng ai nói với bà kiểu “sao bà dại thế? sao bà lại chịu thiệt thòi thế? ông Khánh đối xử với bà có ra gì đâu? …”

    Vậy so với bộ giá trị ấy, bộ giá trị phụ nữ thời nay kêu gọi “đứng lên đòi tự giải phóng, đòi quyền lợi cho mình”, và những cô gái sợ kết hôn, sợ sinh con … là bước tiến lên hay thụt lùi? Nếu là bước tiến lên, tại sao mình lại ngưỡng mộ bà Khánh? Hay đó là bước tiến lên của giới đàn ông và bước thụt lùi của người phụ nữ chăng? Bạn sẽ sống theo và dạy con gái bạn bộ giá trị nào?

  4. @Quỳnh Linh:
    Tất nhiên chúng ta không thể sống & dạy con gái chúng ta theo giá trị truyền thống cũ, vì mỗi thời đại sẽ có mỗi quy chuẩn giá trị khác nhau.
    Câu chuyện của bà Nguyễn văn Khánh là câu chuyện cũ, thời này chắc…không phụ nữ nào dám để chồng có đến…7 đứa con với người phụ nữ khác, mà lại còn nuôi con riêng của chồng như bà.
    Ý của mình khi sưu tầm bài viết này là sau những tài năng và vinh hoa của nghệ sỹ, là cả một …nỗi buồn còn lại!

  5. Ồ, câu hỏi của em chỉ là một câu hỏi tu từ. Nhưng tiếc là câu trả lời của anh lại hoàn toàn ngược lại với câu trả lời em mong đợi!😀 Dù sao anh cũng thuộc “phe kia” nên em xin trân trọng câu trả lời và sự cảm thông của anh.🙂

    Em thì nghĩ có những giá trị vĩnh hằng ở mọi thời gian, như thiên hạ hay gọi là thiên chức của phụ nữ vậy. Xã hội hiện đại đến đâu, khi phụ nữ “tiến bộ” đến mức phủ nhận thiên chức của mình thì đều là “thảm họa” của nhân loại và giống nòi. Những điều bà Khánh đã làm như “để chồng có đến…7 đứa con với người phụ nữ khác, mà lại còn nuôi con riêng của chồng như bà.” em cảm thấy là những điều mà một người phụ nữ như bà không thể làm khác đi được, một người phụ nữ sống trọn vẹn với thiên chức làm vợ, làm mẹ. Em nghĩ bà làm như việc nên làm mà chẳng nghĩ ngợi nhiều như chúng mình đâu.

    Dù sao mỗi người sẽ tự chọn lấy câu trả lời cho mình. Em chỉ có quyền chọn cho em và một mức nào đó cho con gái em mà thôi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: