Góa phụ liệt sỹ Hoàng Sa kể chuyện – Báo Đại Đoàn Kết đề nghị vinh danh các liệt sỹ Hoàng Sa

Thiếu tá Ngụy Văn Thà
Chồng bà Sinh nằm trong số 58 người lính Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong trận hải chiến

Lễ tưởng niệm các liệt sỹ Việt Nam của cả hai chế độ trong các cuộc chiến chống Trung Quốc kể từ năm 1974 tới nay đã diễn ra ở thành phố Hồ Chí Minh vào ngày Thương binh liệt sỹ 27/7.

Trong số những người tới dự có bà Huỳnh Thị Sinh, quả phụ của Thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo của hải quân Việt Nam Cộng hòa, người nằm trong số 58 binh lính hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa với hải quân Trung Quốc hồi năm 1974.

Nguyễn Hùng của BBC đã hỏi chuyện bà Sinh ngay sau khi bà tham dự buổi lễ tưởng niệm đầu tiên cho chồng bà từ năm 1975.

Khi Thiếu tá Ngụy Văn Thà rời nhà đi công tác trong những ngày giáp Tết Quý Sửu hồi năm 1974, ông ôm hôn và tạm biệt vợ con như các chuyến đi trước đó.

Nhưng bà Huỳnh Thị Sinh, vợ ông, nói ông có vẻ bịn rịn hơn bình thường.

Ông, bà Sinh và ba cô con gái, khi đó lên ba, sáu và chín tuổi sống trong một căn hộ chung cư trên tầng hai ở đường Lý Thường Kiệt.

Căn hộ có một chiều 12 mét và một chiều 3,5 mét. Bà Sinh nói vì “không có tiền nên mới phải ở vậy”.

Bà nhớ lại buổi chia tay chồng: “Trước khi ông đi, ông cứ đi ra lại đi vô.

“Rồi ông đứng dưới đường nói ‘tàu đang vô dầu, sửa chưa xong”.

Đó là cuộc nói chuyện cuối cùng giữa Thiếu tá Thà, 31 tuổi và bà Sinh, 26.

Trong trận hải chiến một, hai ngày sau đó, chiến hạm Nhật Tảo – HQ10 của ông được cho là đã đã bắn hỏng một trong số các tàu của hải quân Trung Quốc nhưng HQ10, vốn chưa sửa xong hỏng hóc và chỉ còn một máy hoạt động, phải hứng những làn mưa đạn.

Theo lời kể của những người sống sót, máu các chiến sỹ loang đỏ trên boong, và Hạm trưởng Thà đã tử trận khi đạn bắn trúng đài chỉ huy.

Sau khi trận hải chiến ban đầu bất phân thắng bại, hai tàu chiến tăng viện của Trung Quốc đã tới Hoàng Sa và bắn chìm chiến hạm Nhật Tảo, hậu thân của tàu vớt mìn Hoa Kỳ USS Serene.

Xác của hạm trưởng Thà cùng hàng chục binh sĩ đã ra đi cùng chiến hạm vào lòng biển.

Đau buồn

Nói chuyện với BBC hôm 27/7, bà Sinh nói:

“Cái chuyến công tác sau cùng mà ông Thà đi, ổng đâu có nói đi để đánh nhau với Trung Quốc hay là cái gì đâu. Cũng bình thường như mình nghĩ ông ấy đi công tác hàng tháng vậy thôi.

“Có khi ông ấy đi một tháng ông ấy về mười ngày rồi ông ấy lại đi nữa. Mà có khi ông ấy đi hai, ba tháng ông ấy mới về một lần. Mình cũng nghĩ ông ấy đi công tác vậy thôi.

“Trời ơi, lúc đó tôi cũng đau buồn lắm. Chứ cũng đâu biết sao bây giờ. Tôi hết hồn luôn đó.”

Bà Huỳnh Thị Sinh, vợ góa của Thiếu tá Ngụy Văn Thà

“Ông ấy nói chuyến công tác này ông ấy đi Đà Nẵng đó.

“Mà tôi không biết làm sao, qua ngày sau thấy báo tin là ổng chết, đánh nhau với Trung Quốc.

“Trời ơi, lúc đó tôi cũng đau buồn lắm. Chứ cũng đâu biết sao bây giờ. Tôi hết hồn luôn đó.”

“…Lúc đó mấy cháu nó còn nhỏ quá. Cháu nhỏ nhất là ba tuổi, còn cháu lớn hình như nó biết.

“Nó ra ngoài cầu thang nó ngồi… nó buồn lắm.

“Lúc đấy nó cũng học lớp hai, lớp ba rồi… nó đọc báo nó thấy, nó hỏi tôi.

“Thì tôi cũng kể cho nó là ba nó chết vậy đó thôi.”

Mất xác

Bà Sinh nói bà nhớ chính quyền thông báo cho bà vào ngày 27 Tết Quý Sửu.

chiến hạm Nhật TảoThiếu tá Ngụy Văn Thà và hàng chục đồng đội đã chết mất xác cùng chiến hạm Nhật Tảo

“Lúc chồng tôi mất thì Bộ Tư lệnh Hải quân cũng có tới nhà tôi làm lễ truy điệu.

“Tại vì ảnh chết không có xác, chỉ có làm lễ thôi.

“Lúc đó nghe ông Tư lệnh ông ấy nói chết… mất xác luôn rồi.

“Tại vì chồng tôi chết trên chiếc tàu, mà tàu nó chìm xuống là mất xác luôn rồi.

“Hổng có đem xác về được mà cũng hổng có nơi chôn cất gì hết, chỉ có làm lễ truy điệu và mình để cái ảnh của anh lên để thờ vậy thôi.

“Hàng năm đúng ngày đó làm đám giỗ vậy à.”

Tưởng niệm

Bà quả phụ nói kể từ tháng Một năm 1974 cho tới khi Sài Gòn sụp đổ hồi tháng Tư 1975, bà được nhận tiền “cô nhi quả phụ” của chính quyền Việt Nam Cộng hòa để bà và ba con có thể sinh sống.

Sau khi Việt Nam thống nhất, các khoản trợ cấp không còn nữa.

Bà đi làm hợp tác xã và ở vậy nuôi ba cô con gái.

Hiện bà Sinh đang ở nhờ nhà người em gái do người ta đã phá chung cư cũ của bà đi để xây mới nhưng việc xây dựng còn chưa bắt đầu.

“Làm được như vậy cho mình thì mình cũng mừng lắm. Mấy anh cũng nghĩ tới vậy thì mình cũng cảm ơn.”

Bà Huỳnh Thị Sinh nói về lễ tưởng niệm cho chồng bà và các liệt sỹ

Bà nói với BBC bà rất vui khi đi dự buổi lễ tưởng niệm những liệt sĩ hy sinh khi chiến đấu chống Trung Quốc.

“Cái đó thì tôi hổng dám nghĩ tới.

“Mấy anh ở bên đây muốn làm sao thì cũng được.

“Làm được như vậy cho mình thì mình cũng mừng lắm.

“Mấy anh cũng nghĩ tới vậy thì mình cũng cảm ơn”.

Chồng bà Sinh nằm trong số 58 người lính Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong trận hải chiến mà Trung Quốc đã chiến thắng và chiếm toàn bộ đảo Hoàng Sa hồi năm 1974.

Kể từ đó tới nay, ngoài cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1979, hải quân Trung Quốc cũng bắn chết 64 lính Việt Nam ở Trường Sa hồi năm 1988 và chiếm bãi đá Gạc Ma từ tay Việt Nam.

Hồi cuối tháng Năm và trong tháng Sáu, chính quyền Hà Nội đã ngầm cho phép một số cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc diễn ra sau khi Bắc Kinh cho tàu gây hấn với tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ở khu vực đảo Trường Sa.

Tuy nhiên, một số cuộc biểu tình trong tháng Bẩy đã bị trấn áp dưới sức ép của Trung Quốc và ý muốn kiểm soát tối đa của chính quyền Việt Nam.


Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam

Dai Doan Ket (05/07/2011)

Trong tâm thức của người Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa gần gũi tựa như cái sân liền với ngôi nhà là dải đất hình chữ S, chỉ bước chân ra là tới. Hoàng Sa ghi dấu trong ký ức bao thế hệ người Việt, là nơi thấm đẫm máu xương, mồ hôi và nước mắt của người dân Việt kiên cường vượt lên đầu sóng ngọn gió để mưu sinh, và khi cần thiết người Việt cũng đã quyết tử để bảo vệ quần đảo – chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Khai thác phốt phát trên đảo Hoàng Sa năm 1940
Hoàng Sa trong ký ức của người Việt thời xưa

Ký ức của người Việt Nam thời xưa còn được ghi lại rõ ràng trong sử sách có lẽ chính là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784). Trong sách Phủ Biên Tạp Lục soạn năm 1776, Lê Quý Đôn cho biết: “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển. Ngoài biển, về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia đi hoặc một ngày, hoặc vài canh giờ thì đến. Trên núi có chỗ có nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên cạnh đảo có vô số yến sào. Các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, vỏ ốc có thể đẽo thành tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà. Có ốc xà cừ để khảm đồ dùng. Lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bộng giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, có thể muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đồn đột, bơi lội ở bên bãi. Lấy về, dùng vôi xát qua, bỏ ruột, phơi khô. Lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi; nấu với tôm và thịt lợn càng tốt. Các thuyền ngoại phiên bị bão thường vào đậu ở đảo này. Trước, họ Nguyễn sai đặt đội Hoàng Sa lấy 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, cứ mỗi năm tháng 2, nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng. Đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim, bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu (đắm), như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ. Đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hạt ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào Cửa Eo đến thành Phú Xuân nộp”.

Lý Văn Phức, một văn nhân nổi tiếng đời vua Minh Mạng, năm 1832 đi thuyền sang Philippines suýt nữa bị mắc cạn ở Hoàng Sa. Ông đã ghi cảm tưởng của mình khi tận mắt nhìn thấy bãi cát vàng mênh mông trên biển cả ấy trong bài tựa và bài thơ nhan đề “Vọng Kiến Vạn Lý Trường Sa Tác”. Bài tựa nói rằng: “Vạn Lý Trường Sa là một dãi cát từ bể nổi lên, phía tây tiếp dương phận trấn Quảng Ngãi, phía đông giáp dương phận nước Lữ Tống, phía bắc tiếp dương phận các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Dằng dặc kéo ngang, không thể lượng đo được. Ấy là chỗ rất hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó, thường thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì chân bãi cát ra rất xa. Một khi lầm thì không thể trở lại. Ngày 14 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1832), thuyền rời Quảng Ngãi, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính là không lầm, một đường thẳng vo, lấy hướng kim Mão-Ất (đông, hơi xế nam) mà tiến. Không dè gió trái, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau, ngóng trông thấy nó. Sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng bừng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền, ngoảnh hỏi người cầm lái là một tay lão luyện tây dương, nói rằng: lấy thước Đạc Thiên (lục phân) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân bãi cát, còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng Kim Dậu (tây), nhằm Quảng Ngãi mà lùi. May nhờ phúc lớn của triều đình, về đến cửa bể Thái Cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không việc gì”.

Trong lịch sử các gia tộc ở Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn chép khá đầy đủ hoạt động của tổ tiên dòng họ vâng lệnh triều đình hàng năm dẫn đội hùng binh ra các đảo Hoàng Sa. Từ thời các chúa Nguyễn đã cho thành lập đội Hoàng Sa. Đến đời vua Gia Long, chính sử còn ghi lại rất rõ năm 1815 vua sai Phạm Quang Ảnh làm Cai đội Hoàng Sa và tuyển các binh phu cùng đi ra Hoàng Sa và cả Trường Sa thám sát và đo đạc thủy trình. Các tài liệu phổ hệ, sắc phong, linh vị…viết bằng chữ Hán Nôm trong nhà thờ hậu duệ của họ Phạm nói đến nhiều người trong họ tộc đi lính Hoàng Sa không trở về. Trong đó có Chánh suất thủy quân cai đội Phạm Hữu Nhật, người đã cùng với Phạm Quang Ảnh được Tổ quốc đặt tên cho hai hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa (đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh). Mới đây, dòng họ Đặng ở đảo Lý Sơn đã hiến tặng cho Nhà nước bản gốc duy nhất Sắc chỉ của vua Minh Mạng phái một đoàn thuyền với 24 lính thủy ra canh giữ quần đảo Hoàng Sa vào năm Minh Mạng thứ 15, tức năm Giáp Ngọ (1834). Trong một tờ lệnh có đóng triện của hai vị quan bố chánh và án sát tỉnh Quảng Ngãi cùng năm Giáp Ngọ (1834) ghi rất rõ những tên tuổi tham gia hải đội Hoàng Sa đợt này như Đặng Văn Siểm, Dương Văn Định, Võ Văn Hùng, Phạm Quang Tình, Võ Văn Công, Võ Văn Hùng, Ao Văn Trâm, Trần Văn Kham…Lừng lẫy nhất là Phú Nhuận Hầu Võ Văn Phú kiêm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ và cai đội Hoàng Sa. Ông Võ Văn Phước hậu duệ đời thứ 16 hiện đang ở Lý Sơn còn ghi nhớ nhiều câu chuyện kể về cha ông mình can trường cưỡi lên đầu sóng ngọn gió ở Hoàng Sa bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Trên đảo Lý Sơn quê hương của đội hùng binh Hoàng Sa ngày nay vẫn còn nhiều mộ gió do dân làng lập nên cho những đứa con của làng hy sinh ở Hoàng Sa từ hàng trăm năm trước. Mỗi lần ra biển, họ đều đến thắp hương khấn vái và cầu mong linh hồn bất tử của những thủy binh hải đội Hoàng Sa tung hoành một thuở chở che cho họ vượt qua phong ba bão táp, gặp may mắn hanh thông trong những chuyến biển dài trên vùng biển mà máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam đã hòa vào biển cả hàng trăm năm qua.

Đặc điểm nổi bật của quần đảo Hoàng Sa
là những đảo san hô vào loại lớn. Toàn bộ quần đảo
trải trên một diện tích khoảng 15.000 km vuông trên mặt biển
Hoàng Sa trong ký ức của người Việt thời nay

Tập san Sử Địa số 29 xuất bản tại Sài Gòn đầu năm 1975 sau khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực là một chuyên đề đặc biệt về Hoàng Sa của Việt Nam. Trong đó có bài của tác giả Trần Thế Đức, ghi chép lại một vài sự kiện liên quan tới quần đảo Hoàng Sa qua lời tường thuật của những người trong cuộc. Kể về hoạt động của Trạm Khí tượng Thủy văn Hoàng Sa, tác giả cho biết các nhân viên khí tượng ở đảo Hoàng Sa mỗi ngày có 8 lần quan trắc gọi về Sài Gòn qua hệ thống vô tuyến điện siêu tần số. Khi có bão, quan trắc phải làm và báo cáo hàng giờ. Nhờ đó, sức mạnh và hướng đi của trận bão được biết rõ và thông báo cho dân chúng, tàu bè, máy bay qua lại trong vùng. Từ Sài Gòn qua hệ thống viễn thông vùng Đông Nam Á, thế giới biết đến Hoàng Sa qua ám số 48860 (48 là vùng Đông Nam Á, 860 là Ty Khí tượng Hoàng Sa). Ty Khí tượng còn kiêm luôn cả Ty Bưu điện, đóng dấu gửi thư từ đảo về đất liền và ngược lại.

Phân phosphate trên quần đảo Hoàng Sa (Paracels) là một nguồn lợi mà nhiều nhà kinh doanh chú ý. Năm 1956, ông Lê Văn Cang được chính quyền VNCH cho phép khai thác phosphate trên quần đảo Hoàng Sa. Năm 1961, Công ty Lê Văn Cang bắt đầu khai thác, Công ty Hữu Phước được hợp đồng chở phân bón về Sài Gòn. Từ năm 1960, có thêm Công ty Phân bón Việt Nam của ông Bùi Kiến Thành tham gia. Sau năm 1970, thị trường phân bón mở rộng nên nhiều công ty khác cũng chú ý đến nguồn phosphate ở Hoàng Sa. Công ty Kỹ nghệ Phân bón Đại Nam (KYPHADACO) do ông Đào Nhật Tiến làm chủ, cho biết thành phần phosphate lấy từ các đảo Hoàng Sa có phẩm chất rất tốt. Ông Tiến còn khám phá ra một tài nguyên khác ở Hoàng Sa là cát và vỏ sò, vỏ ốc. Cát và vỏ sò, vỏ ốc Hoàng Sa xay thành bột nung ở nhiệt độ cao được sản phẩm gọi là “cát Hoàng Sa” có thể trị phèn trong ruộng và trộn với thức ăn gia súc.

Vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa là nơi lui tới của nhiều tàu lạ. Người Việt vốn quý khách. Khách tới, đi ca nô hay xuồng nhỏ vào đảo là được tiếp niềm nở. Nhất là những lúc khách gặp cơn hoạn nạn cần được cứu giúp. Chủ và khách đều vui vẻ. Khách chân thật không có gì đáng e ngại, vì khách thường tới từ các tàu cá, không có vũ khí, chủ nhà còn được xuống tàu khách tham quan. Khách có thể lên đảo nghỉ ngơi, tắm nước ngọt, phơi cá, phơi lưới trên đảo, trao đổi hàng hoá, nước ngọt, rau tươi… Nghỉ ngơi xong, khách lại xuống tàu nhổ neo ra đi. Tuy nhiên, có một lần khoảng năm 1970, một bọn người không rõ quốc tịch lên đảo xin nghỉ ngơi, nói tàu đánh cá của họ bị bão. Chủ nhiệt tình giúp đỡ, cho họ vào tạm trú chân. Các anh lính bỗng chú ý vì họ mang theo một tấm giấy lớn, mở ra thì nhận ra ngay là bản đồ quần đảo Hoàng Sa (Paracels). Một anh lính thấy họ cầm bản đồ ngược, liền kêu lên. Người nọ giật mình, quay bản đồ lại. Thì ra họ biết tiếng Việt. Thế rồi sau này xảy ra chuyện ngày 19-1-1974.

Một nhân viên của Trạm Khí tượng Thủy văn Hoàng Sa
trước năm 1974
Trong khi thực hiện loạt bài này, chúng tôi nhận được rất nhiều ý kiến động viên, khích lệ của độc giả, trong đó có những ý kiến rất tâm huyết, trăn trở về việc thực hiện sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Có độc giả đề nghị nên bắt đầu bằng việc vinh danh xứng đáng những người con đất Việt đã quên thân mình để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Mới đây, ông Nguyễn Thiện, tác giả chương trình “Dân ta biết sử ta”, đã gửi tới báo Đại Đoàn Kết bức thư tâm huyết đề nghị “cần vinh danh những người con đất Việt đã hy sinh trong trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974”. Vinh danh những người con đất Việt đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa cũng là một cách để khắc ghi ký ức Hoàng Sa vào tâm thức dân tộc mãi mãi không phai mờ. Nhìn nhận sự hy sinh của ông Ngụy Văn Thà – Hạm trưởng tàu Nhật Tảo (HQ10) cùng gần 60 đồng đội khác của ông trong trận quyết tử để bảo vệ Hoàng Sa ngày 19-1-1974, ông Nguyễn Thiện bày tỏ: “Vinh danh những người con đất Việt hy sinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 là minh chứng sâu sắc rằng Tổ quốc là của mọi con dân nước Việt, là thể hiện sâu sắc sự công bằng với lịch sử, có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng bảo vệ, xây dựng Tổ quốc, là bước đột phá quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết dân tộc.”.

Ký ức Hoàng Sa có lẽ sẽ chẳng bao giờ phai nhạt với những con người gắn cả cuộc đời mình với vùng biển thân thuộc tiếp nối từ nhiều đời trong gia tộc như “sói biển” Mai Phụng Lưu, ngư dân đảo Lý Sơn, người 4 lần bị Trung Quốc bắt khi đang đánh cá trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. Sau một thời gian khánh kiệt không còn khả năng để sắm thuyền và ngư cụ ra khơi, nay ông vừa được một quỹ hỗ trợ ngư dân cho vay ưu đãi để giúp “sói biển” trở về ngư trường quen thuộc của cha ông như xưa. Ông Lưu chia sẻ: “Không biết sao chứ cứ ra tới biển là trong đầu tui cứ nhớ đường tới Hoàng Sa. Có lần tui chạy về hướng Trường Sa được 180 hải lý rồi tự nhiên tay lái cứ bẻ lên Hoàng Sa”. Ông Võ Hiển Đạt, người trông coi Âm Linh Tự thờ cúng hương hồn các dân binh Hoàng Sa nói: “Đối với bà con Lý Sơn, Hoàng Sa y như cái đảo Bé ở đây. Chỉ bước chân ra là tới. Đó là nhà của dân Lý Sơn từ bao đời nay”. Có lẽ trong tâm thức của mọi người Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa cũng giống như sân nhà mình, chỉ bước chân ra là tới.

Nhóm PV Biển Đông

10 Responses

  1. Báo Đại Đoàn Kết đã thực sự là báo Đại Đoàn Kết khi đề nghị vinh danh các liệt sĩ Hoàng Sa!
    Anh Ngụy Văn Thà và các đồng đội của anh đã vì đất nước Việt Nam nói chung mà nằm lại với biển cả.
    Những lời nói của chị Huỳnh Thị Sinh, vợ anh Thà, cho chúng ta thấy tấm lòng chị cũng rộng như biển cả.
    Hoàn toàn không có chút tủi giận, chỉ có cảm ơn!

  2. Cuộc đời người lính thật bạc.
    Người lính nào cũng đều:
    – có cùng bổn phận: thực hiện nhiệm vụ.
    – có cùng mục đích: hoàn thành nhiệm vụ.
    Thế nhưng những chiến sĩ ấy khi ngã xuống:
    – người thì được gọi là hy sinh, được vinh danh anh hùng, liệt sĩ, người thân được hưởng chế độ.
    – người thì bị gọi là bỏ mạng, bị tiêu diệt…
    Nghịch lý.

    Hy sinh có lẽ nên được dùng với định nghĩa của nó:
    Hy sinh là hành động đánh đổi một thứ quan trọng với bản thân cho một điều khác được coi là đáng quí hơn.

  3. Lòng yêu nước và hy sinh tính mạng vì nước thì không bao giờ là sai trái-dù thuộc chính thể nào.Chỉ là bức xúc và đau buồn giùm cho những người lính đã tử trận chẳng được nhớ ơn ghi công thì chớ,mà còn bị chính những người chung giòng giống Lạc Hồng(chỉ khác chính thể)coi như kẻ thù và liệt Họ vào thành phần nguỵ.
    Thương cảm thay!!!

  4. Hơn 37 năm đã trôi qua , những người lính chiến hy sinh thân mình để bảo vệ Hoàng Sa của tổ quốc thân yêu ! họ đã mất xác cùng với chiến hạm Nhật Tảo , không còn hy vọng một ngày nào đó sẽ được tìm và đưa được xác thân vùi nát của họ về với người thân và quê hương ! Khổ đau nhất là những người thân thuộc của họ ! Một thời gian gần non nửa thế kỷ không ai đoái hoài đến những người này và ghi nhận công lao của các anh hùng tử sĩ này , không có một nghi lễ nào mang tầm vóc quốc gia ghi ân họ để các anh hùng này ngậm cười nơi chín suối . Thậm chí một chút tiền “cô nhi quả phụ ” cũng bị tước bỏ ! Để đến bây giờ khi kẻ thù nham hiểm truyền kiếp của Tổ quốc ngày càng lộng hành táo tợn lộ nguyên hình là con quỷ dữ và đe dọa lấn hết bờ cõi quốc gia thì họ ( các anh hùng tử sĩ và người thân ) mới được một số người nhớ tới ! Muộn màng thật , nhưng dầu sao cũng là một chút nghĩa cử sưởi chút hơi ấm vào lòng họ cho đỡ tủi !
    Điều này một lần nữa để các nhà lãnh đạo quốc gia thấy rõ con đường cấp bách hòa giải hòa hợp dân tộc là hợp lòng dân nhất !là cứu cánh tạo được sự đoàn kết thống nhất tình yêu nước nồng nàn của toàn dân trong chống lại mọi âm mưu xâm lăng nô dịch của các kẻ thù ngoại bang và xây dựng đất nước giàu mạnh ( Thống nhất đất nước quan trọng không chỉ dừng lại ở chổ thống nhất lãnh thổ mà chủ yếu ở chổ thống nhất ý chí , tình cảm , nguyện vọng của đại đa số con người cấu thành dân tộc đó )

  5. Người lính suy cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh, là công cụ thực hiện mục đích của người khác.
    Những chiến sỹ này may mắn còn đang được nhân dân VN kêu gọi vinh danh, được gọi là hy sinh. May mắn hơn rất nhiều người lính miền nam VN khác vẫn đang bị coi như kẻ thù, là lính Ngụy đáng bị tiêu diệt. Thắng làm vua, thua làm giặc, đó là 1 thực tế khó thay đổi.
    Vinh danh những liệt sỹ này cũng là 1 một việc rất khó xử lý đối với nhà nước VN.
    Cá nhân tôi, tôi vẫn dành 2 từ hy sinh cho tất cả những người lính theo đúng định nghĩa của nó chỉ trừ những kẻ tàn ác thảm sát dân thường gây ra tội ác chống lại loài người là đáng bị lên án.
    Cả những người lính Trung Quốc chết trong trận hải chiến cũng vậy mà thôi. Họ chết đi mất mát lắm chứ, cũng vợ góa, con côi, cha mẹ già thương sót…
    Tất nhiên chẳng bao giờ người ta nói đối phương là hy sinh cả. Nhất là những người có tinh thần dân tộc chủ nghĩa cao. Quân ta thì là anh dũng hy sinh, đối phương thì bao giờ cũng là “tiêu diệt những kẻ bành trướng”.
    Suy cho cùng đó cũng chỉ là sắc thái tình cảm khác nhau của ngôn từ.
    Còn nếu đã bàn đến đúng sai thì phải nhìn nhận mọi việc bằng con mắt thực chứng luân và tư duy khách quan. Khi tiếp nhận thông tin, tôi chỉ tập trung vào sự việc mà thông tin cung cấp chứ không để bị ảnh hưởng bởi quan điểm chủ quan của người viết.

  6. Mình hoàn toàn đồng ý với Lonely way “Người lính suy cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh”, và đó là lịch sử. Oán thù nên hóa giải chẳng nên buộc. Lịch sử đã qua rồi, chiến tranh đã qua rồi, nên dành cho mọi người lính đã ngã xuống một sự tôn trọng như sự tôn trọng đối với lịch sử. Và với những người lính mà sự hi sinh của họ đem lại “lợi ích” cho phe ta hay vì phe ta, ngoài sự tôn trọng, cần có thêm sự biết ơn và trân trọng nữa. Nếu cũng vì “lịch sử” mà thiếu sót sự biết ơn và trân trọng này thì bù đắp ngay khi nhận ra, chẳng bao giờ là muộn.

  7. Không nên đưa vấn đề đi quá xa và suy luận phủ màu sắc triết lý không tưởng và huề cả đám . Đồng ý người lính nào đã ngã xuống trên chiến trường kể cả thân nhân họ ( và người dân thường 2 bên bị thương vong do tên bay đạn lạc ) đều là nạn nhân của chiến tranh nhưng ta phải nhìn nhận một cách minh bạch rạch ròi và có đạo lý rằng có cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa ( Thiện và Ác ) Như vậy , không kể chỉ là người lính ( với quân phục và số quân ) mà còn cả một hệ thống , nhiều tập đoàn và hậu phương ( chính quyền và dân ) cùng có chính nghĩa hay không , họ cùng hy sinh ( nếu có chính nghĩa và đấu tranh cho điều Thiện ) và cùng hưởng với nhau nếu chiến thắng . Còn khi cuộc chiến phi nghĩa ( cho điều Ác ) thì cả hệ thống phải cùng chung số phận với nhau ( cái từ hy sinh chỉ dành cho ai bị thiệt thòi vì đấu tranh cho điều Thiện ) . Tôi muốn nhắc đến những cuộc chiến trong lịch sử của VN ta và trên thế giới , những cuộc chiến bảo vệ tổ quốc thuần túy chống xâm lăng , chống thực dân , chống bành trướng , chống fascism , chống khủng bố ..v..v… Không chỉ những người lính mới phải hy sinh để ai đó được hưởng mà toàn dân kể cả những người lãnh đạo cũng phải chịu chung số phận nếu thất bại !
    Trở lại vấn đề bài viết trên , theo tôi người viết rất có cái tâm , họ chỉ muốn qua sự hy sinh mất mát của những người lính VNCH và thân nhân của họ tại Hoàng Sa 1974 để trong khuôn khổ dân tộc và đất nước VN ta ( tôi nhấn mạnh chữ khuôn khổ ) có một cái nhìn nhân bản thấm đẫm tình người và tình yêu quê hương tổ quốc hơn và với cái logic lý – tình đó , các vị có trách nhiệm cao hơn cùng với toàn dân ta sẽ triển khai rộng hơn , cụ thể hơn , thực tiễn hơn ( không phải bằng những lời nói suông và mang màu sắc chính trị ) cái mục đích sau cùng là HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC sau gần non một thế kỷ nhân dân ta ly tán , kỳ thị Bắc Nam , Quốc – Cộng ……Chúng ta nên thống nhất một nhà là nhà Việt Nam .

    • Ha ! anh Ninh !

      Anh nói hơi trế quá rồi. Sự phân biêt logic Thiện Ác đã làm ít ra là từ năm 1954 đến nay, với 2 phe ai cũng cho là mình thiện và bên kia là ác. Ta còn muốn tiếp tục chui vào con đường cùng đó sao ?

      Trong các loại luật để hành nghề, mình ghét nhất là luật ly dị. Trong đời mình chỉ làm có hai vụ, chỉ vì đó là người quen, không từ chối được, và từ đó đến sau mình nhất quyết không bao giờ làm ly dị. Cả hai cãi nhau đến muốn giết nhau cho những chuyện cực kỳ không tưởng, như là ai được quyền giữ cái ghế, trị giá 2 đô la, chỉ vì đó là “kỷ niệm của tui” và “tui chỉ muốn lấy nó chỉ vì you muốn lấy nó”. Và vì là người quen nên bà con biết số điện thoại nhà mình, nên bà con thưởng xuyên kêu mình lúc 2, 3 giờ sáng để kêu cứu và phàn nàn là họ đang cãi nhau. (Một lần khác mình dại dột cho số điện thoại nhà cho một anh khùng khùng chuyên môn gọi cảnh sát và dọa đốt ty cảnh sát. Vì anh ta khùng nên mình muốn anh ta có số điện thoại thường trực của mình. Đương nhiên là mình bị gọi thường xuyên khoảng một hai giờ đêm: “Mr. Tran, I am arrested. Please help me!” “What? You threatened the police again?” “Yes, sir!”)

      Sự thật là trong vấn đề hòa giải, người ta phải tạm quên đi quá khứ, nhìn vào tương lai, và dùng tình yêu hơn là logic để tranh luận.

      Mình hành nghê luật mấy mươi năm, chỉ làm một việc đánh nhau, nên rất rành chiến tranh và hòa bình.

      Đừng nói đúng sai khi muốn hòa bình. Nói đến tình yêu và hợp nhất,

      Rồi khi có hòa bình và tình yêu rổi, thỉnh thoảng ôn lại chuyện cũ, phân tích đúng sai cũng không muộn, nếu muốn.

      Đừng đặt cái cày trước con trâu.

  8. Anh Ninh nói đúng. Cảm ơn anh. Đó đúng là triết lý không tưởng ở thời điểm hiện nay. Còn tương lai thì chưa thể biết được sẽ ra sao. Nếu điều đó mang lại nhiều tích cực thì cũng đáng mơ ước lắm chứ ạ? Trong mấy ngàn năm phong kiến cha truyền con nối thì bầu cử tự do cũng là không tưởng, nhưng bây giờ xã hội đã vận động đến điều đó rồi phải không ạ?
    Tôi hiểu và tôi cũng thừa nhận cái thực tế “thắng làm vua, thua làm giặc”. Tôi nghĩ điều tôi nói về người lính không sai. Còn suy nghĩ “mình thiện và bên kia là ác” có lẽ không phù hợp, nhìn vào tương lai bằng lối suy nghĩ mới chính xác hơn chứ vẫn theo lối mòn cũ thì sẽ vẫn lặp lại đau thương.
    Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, tôi rất không đồng tình với những lời hận thù như “đánh bọn Tàu khựa”… cũng có rất nhiều bạn kêu gọi phân biệt rõ nhân dân TQ với chính phủ TQ.
    Chỉ cần người dân hiểu đúng, chiến tranh cũng khó xảy ra hơn ngay cả khi nhà cầm quyền muốn phát động.
    Tôi cũng chẳng dám kỳ vọng điều gì như 1 quan điểm hòa bình to tát cả , chỉ mong hiểu đúng bản chất khách quan để bớt đi 1 chút hận thù đã là vui lắm rồi.

  9. Anh Hoành và bạn Lonely way ( xin lỗi mình chưa biết tuổi tác của bạn ) ơi ! , N không đề cập đến cái Thiện , cái Ác trễ đâu ! N chỉ muốn nói trong khuôn khổ của nước và dân VN ta ( chưa muốn nói trong tầm cỡ cả nhân loại ) ! Đồng ý với anh ( không phải từ 1954 mà từ trước những năm 30 của thế kỷ trước ) cả 2 bên ( Quốc – Cộng ) ai cũng cho mình là bên Thiện và quyết diệt bên kia là bên Ác ! Bởi thế , những comments của N là muốn chúng ta ( không phân biệt ) phải rạch ròi cái nào của ta là Thiện , cái nào của ta là Ác ? cái Thiện thì nên giữ lấy và duy trì phát triển , còn cái Ác thì nên nhìn nhận để loại trừ : nói tóm lại là chúng ta ( người dân Việt ) nên cố gắng và can đảm nhìn nhận những cái Thiện , cái Tốt của nhau và gộp lại làm một để còn nhìn nhau là anh em một nhà ( nói như anh Hoành thì giả dụ như vợ chồng mình nên nhìn nhận cái Tốt của nhau , bỏ đi cái Xấu của nhau mà đừng có nói chuyện ly dị nữa ) để làm gì ? – để cứu nước hỏi họa xâm lăng mất nước đang chờ chực ! để mưu cầu hạnh phúc dài lâu như hàng ngàn năm xưa ! để biến thành một sức mạnh tổng hợp làm nước giàu dân mạnh sống trong tình yêu thương !
    Còn cái Ác , cái Thiện đối với con người nói chung thì có nói đến bao giờ cũng không trễ cả ! Ta phải lấy cái chân lý đạo đức mà những tôn giáo chính thống trên thế giới thống nhất để làm thước đo cho những hành động của chúng ta kể cả khi chúng ta phát động chiến tranh hay lâm vào thế buộc phải chiến đấu bằng mọi cách kể cả vũ lực để sinh tồn hoặc để diệt tà !Nói như thế để cho thấy rằng người lính ( đại diện cho phe này hoặc phe kia ) đồng ý đều là nạn nhân của chiến tranh nhưng có người thì chiến đấu để bảo vệ cái thiện , cái tốt , có người lại chiến đấu để bảo vệ cái ác , cái xấu ( có thể họ không phân biệt được xấu – tốt hoặc bị bắt buộc nhưng không thể vì thế mà cho rằng họ không có tội giống như một người đi mua lại một của do quân trộm cướp bán rẻ mà nói rằng tôi không có tội vì tôi không biết luật pháp ngăn cấm )
    Trở lại việc vừa qua có nhiều nhóm người ( dĩ nhiên là có sự cho phép của chính quyền VN hiện tại ) đã nhìn nhận công lao những chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến bảo vệ Hoàng sa 1974 , như vậy là mặc nhiên chính quyền đã công nhận các chiến sĩ này chiến đấu vì lẽ phải , vì bảo vệ tổ quốc , và như thế thì những vị chỉ huy của họ cũng làm một việc đúng khi ra mệnh lệnh điều động quân đội đến bảo vệ Hoàng Sa ( ngoài ra tôi còn đọc các thông tin trên báo chí trong nước nhắc đến các năm 1956 – 1958 chính quyền miền Nam VN NĐD cũng đem quân ra chiếm lại đảo này từ tay TQ xâm lược)
    Đó là một dấu hiệu tốt cho thấy chính quyền hiện tại không cho rằng các chính thể trước của miền Nam đều có hành động sai và mặc nhiên công nhận họ cũng có quyết tâm chống xâm lăng ! ( không như anh Hoành nói thì nhất quyết phe này bao giờ cũng cho phe kia là Ác )
    Từ đó , với cơ hội nước nhà đang có nguy cơ lâm nguy do kẻ thù truyền kiếp TQ ( tham lam và ngang ngược ) và xu thế hòa bình hòa hoãn của thế giới , tôi cầu mong ( không phải là điều không tưởng nữa ) các vị có trách nhiệm của nước nhà và toàn dân ta nên gạt bỏ hết mọi tỵ hiềm , đừng quyết liệt tranh cãi một mất một còn ai đúng ai sai nữa mà nên cùng về chung dưới mái nhà VN , lấy tấm lòng bao dung , ruột thịt để giang tay ra ( xin đừng với thái độ ban ơn ) bỏ qua mọi quá khứ đau buồn và chở che cho nhau : hạnh phúc đó mới là hạnh phúc trường cửu đời đời !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: