Thành Đoàn – Một thời hoa lửa


TĐH: Ôn cố tri tân

Thứ Năm, 23/03/2006, 05:40 (GMT+7)

Thành Đoàn – Một thời hoa lửa (kỳ 1): Những phiên tòa khí phách

Bốn án tử hình: Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư, Lê Văn Thành và Huỳnh Văn Chính (từ trái qua, trên xuống) đăng tải trên báo chí Sài Gòn năm 1962 – Ảnh tư liệu

TT – Thành đoàn không chỉ là tên gọi của cơ quan Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Sài Gòn – Gia Định trong những năm chống Mỹ, đó còn là biểu tượng của sự ngoan cường, mưu trí đánh Mỹ ngay trong nội đô Sài Gòn. Hình ảnh của Thành đoàn anh hùng một thời hoa và lửa, một thời bom đạn và tình yêu nở hoa như vẫn còn lung linh cho đến tận hôm nay…“Quyết tử quân” giữa Sài Gòn

Đầu năm 1961, Mỹ đưa thêm 1.000 sĩ quan đến Sài Gòn âm mưu mở rộng sự can thiệp quân sự vào VN. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN ra lời hiệu triệu: “Hãy ngăn chặn bàn tay đẫm máu của đế quốc Mỹ”. Một tiểu đội vũ trang Quyết tử quân được thành lập bí mật giữa lòng đô thị Sài Gòn đúng vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26-3-1961. Ông Lê Hồng Tư, khi đó 26 tuổi, phụ trách cánh vũ trang của ban cán sự SVHS khu Sài Gòn -Gia Định, lần giở lại ký ức:

… Ngày 7-4-1961, hai “học trò” Trí, Thành chạy xe gắn máy bám theo một chiếc ôtô sang trọng. Đến trước một căn biệt thự trên đường Trương Minh Ký (nay là đường Nguyễn Thị Diệu, quận 3), khi viên sĩ quan Mỹ đứng tần ngần chờ mở cổng thì một tiếng nổ chát chúa vang lên… Chiều hôm đó, Đài BBC đưa tin đại tá William Thomas, cố vấn Mỹ đặc trách xây dựng sân bay quân sự, đã tử thương…

… Ngày 8-7-1961, ba anh Thành, Trí, Bộ đi hai xe gắn máy bám theo và tống một quả thủ pháo vào chiếc ôtô chở đại sứ Mỹ Frederick Nolting trên đường Pasteur. Không có tiếng nổ, chỉ có tiếng la hoảng, cận vệ của đại sứ Mỹ chỉ kịp bắn trúng vè sau xe Trí. Để “xả xui”, ít ngày sau đó hai anh Thành, Trí đã tung lựu đạn lên một xe quân sự trên đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám)…

Sau nhiều phi vụ táo bạo, địch ráo riết truy lùng Quyết tử quân. Do sơ hở, các chiến sĩ lần lượt bị bắt. Tại tổng nha cảnh sát, họ đã trải qua những trận tra tấn ác nghiệt của kẻ thù.

Ông Lê Hồng Tư cho biết: “Ngán nhất là bị trói ngược hai tay ra sau rồi treo lên, chỉ một hồi là ngất xỉu”. Họ bí mật bàn cách đối phó trước tòa án địch: chỉ thừa nhận là SVHS yêu nước đánh Mỹ xâm lược, còn hai anh Lê Hồng Tư và Lê Quang Vịnh được “dự kiến” sẽ lãnh án tử hình nên phải “nói càng nhiều càng tốt”.

Thật ra, anh Vịnh không phải là Quyết tử quân mà là cán bộ Hội LHTN SVHS giải phóng khu Sài Gòn – Gia Định bị bắt khi địch càn vào căn cứ ở Đức Hòa (Long An).

Ngày 24-5-1962, Mỹ – Diệm đưa hai anh Vịnh, Tư và 10 chiến sĩ Quyết tử quân ra tòa án quân sự đặc biệt. Phòng xử án chật ních người, ngoài thầy cô, bè bạn, đồng bào còn có hàng chục nhà báo đang chĩa máy ảnh về phía họ. “Bị cáo” Tư khéo léo từ chối luật sư bào chữa là ông Nguyễn Tiến Tranh: “Cám ơn luật sư, tôi biết mình chắc chắn lãnh án tử hình, cãi cho tôi ông sẽ mất uy tín nghề nghiệp”.

– Bị cáo Lê Hồng Tư có nhận tội tổ chức ám sát người Mỹ?
– Tại người Mỹ xâm lược nên chúng tôi phải đấu tranh.
– Liệng lựu đạn mà là đấu tranh chính trị à?

– Chúng tôi đấu tranh chính trị mãi mà không được gì nên phải tìm vũ khí của lính cộng hòa đánh Mỹ. Vũ khí của chúng tôi còn ít nên quí lắm, chỉ dành “tặng” sĩ quan Mỹ mà thôi (cả phòng xử án cười ồ).

– Xử án tử hình bị cáo có hối tiếc gì không?
– Chỉ tiếc là không đủ lựu đạn để giết hết tụi Mỹ.

Còn anh Vịnh hùng hồn tố cáo chế độ mất dân chủ, tay sai của ngoại bang… Phiên tòa kéo dài từ sáng sớm tới tận khuya. Bốn “bị cáo” là Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành và Huỳnh Văn Chính bị tuyên án tử hình. Họ đồng loạt hô: “Đả đảo luật pháp phát xít!”.

Cảnh sát nhào tới dùng dùi cui đập túi bụi. Trên đường về lại nơi giam giữ, họ cùng hòa nhịp hát “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước. Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước…”. Niềm vui sướng dâng cao vì đó là lần đầu tiên họ được hát vang bài Giải phóng miền Nam ngay giữa lòng đô thị Sài Gòn.

Từ trái qua phải: Trương Văn Khuê, Nguyễn Duy Thông, Lê Văn Nuôi (dấu X), Nguyễn Xuân Thượng và Lương Đình Mai là những SV đã cắt tay lấy máu viết khẩu hiệu “Tự do hay là chết” trong phiên tòa ngày 18-3-1972 tại tòa án quân sự Bạch Đằng – Ảnh tư liệu

Tin Sáng, một tờ báo “thân” với phong trào SVHS, ngày đó có đoạn viết: “Tất cả những người tham dự phiên tòa đã vô cùng xúc động trước hào khí bừng bừng của anh chị em SVHS được chế độ này gọi là can phạm… Có chứng kiến tận mắt cái hào khí ấy mới thấy rằng niềm tin bạo quyền dù có tàn ác đến đâu rồi cũng bị dân tộc này xô đổ, đế quốc dù có thâm độc đến đâu rồi cũng bị dân tộc này đánh gục…”.

Nhiều người dân hai bên đường ngỡ ngàng, còn mấy tay giám thị đi cùng phải năn nỉ… Những ngày sau đó, bốn tử tội bàn bạc cách “chết cho đàng hoàng”, nếu có ra máy chém khí thế cũng phải hiên ngang.Thủ lĩnh chiến dịch “MK3”

Nửa cuối tháng 3-1972, báo chí Sài Gòn đồng loạt đăng bài tường thuật về một phiên tòa đặc biệt xét xử các SVHS. Đặc biệt, hầu hết các báo đều đăng tải phần tra hỏi “bị cáo” Lê Văn Nuôi – khi đó là chủ tịch Tổng đoàn học sinh Sài Gòn.

34 năm sau, anh Lê Văn Nuôi vẫn còn nhớ đến từng chi tiết những sự kiện ngày ấy: “Bấy giờ là khoảng giữa năm 1971, mâu thuẫn giữa tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trước bầu cử rất gay gắt. Thiệu dự định hất cẳng Kỳ để độc diễn. Cấp trên giao cho chúng tôi đấu tranh khai thác mâu thuẫn của địch”.

Qua bàn bạc, Tổng đoàn HS Sài Gòn và Tổng hội SV Sài Gòn cử một phái đoàn đến gặp ông Kỳ tại trại Phi Long (sân bay Tân Sơn Nhất) đề nghị tạm hoãn quân sự học đường cho học sinh trong thời gian thi cử và tranh thủ “mượn” dinh quốc khách trên đường Tú Xương (nay là Nhà Thiếu nhi TP.HCM) làm trụ sở hoạt động của SVHS thay cho trụ sở 207 Hồng Bàng đã bị cảnh sát chiếm đóng.

Ngay sau khi chứng kiến cảnh SVHS tay không xuống đường đánh nhau với cảnh sát, Kỳ cho cung cấp máy đánh chữ, giấy in truyền đơn và 2.000 quả MK3 – loại lựu đạn dùng trong quân trường. Trận đầu tiên diễn ra trước cổng Đại học Vạn Hạnh.

Từ một cuộc biểu tình trong sân trường, SVHS tràn xuống đường đặt MK3 phá tung các thùng phiếu đặt trên một đoạn dài đường Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sĩ). Chiến dịch “MK3” đã có hiệu nghiệm ngay, không ai dám đi bầu. Thiệu điên cuồng ra lệnh lùng bắt “bọn HS phá hoại”, danh sách truy nã lên đến hơn 100 người.

Các nhóm “Sao chổi”, “Sao xẹt”… đánh xong là “hô biến”, song cuối cùng bọn mật vụ cũng lần ra “sở chỉ huy chiến dịch” nhưng không dám vô vì đó là… dinh phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ! Nhưng sau khi liên danh Thiệu – Hương trúng cử, hàng loạt thủ lĩnh phong trào SVHS lần lượt bị bắt, trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm, Võ Như Lanh, Nguyễn Xuân Thượng, Võ Thị Bạch Tuyết, Lê Văn Nuôi…

Ngày 18-3-1972, địch đưa 10 SVHS chỉ huy “chiến dịch MK3” ra tòa án quân sự mặt trận ở bến Bạch Đằng để xử tội “phá rối trật tự trị an”. Phiên tòa diễn ra bên trong, SVHS chỉ được đứng bên ngoài hàng rào kẽm gai. Hai luật sư Nguyễn Long và Vũ Văn Mẫu (sau này là thủ tướng của chính phủ Dương Văn Minh cuối tháng 4-1975) tham gia biện hộ cho các SVHS.

Lê Văn Nuôi khai lựu đạn MK3 là do cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cung cấp, nhưng do ông Kỳ không có mặt nên tòa tuyên bố hoãn vô thời hạn. Các “bị cáo” lập tức túa ra, hô to: “Đả đảo tòa án quân sự mặt trận”, “Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu”, “Yêu cầu chính quyền trả tự do cho chúng tôi!”…

Trong lúc chờ bị áp giải ra xe, họ rút dao lam giấu sẵn dưới tóc ra cắt tay, lấy máu vẽ lên tường dòng chữ “Tự do hay là chết”. Theo phân công, mỗi người phải lấy đủ máu vẽ một chữ. “Có người phải cắt tay tới ba lần mới lấy đủ máu – anh Lê Văn Nuôi nhớ lại – Trước đó anh Mẫm học y khoa nên hướng dẫn anh em cách cắt được nhiều máu mà không nguy đến tính mạng”. Cảnh sát và quân cảnh xông vào đàn áp và đưa số SVHS lên xe về trại giam…

Đi “tàu bay”, “tàu lặn”, “hút thuốc Salem”…, những đòn tra tấn tàn bạo trong lao tù của kẻ thù với phong trào SVHS như để thử thách thêm khí tiết của những người cộng sản trẻ tuổi. “Biết bao người đã hi sinh, tiếc gì thân mình, quyết không khai”, họ nghĩ vậy giữa lằn ranh sống chết. Và họ tiếp tục đi tới.

Vì họ có lòng tin mãnh liệt vào con đường mình đang bước tới…

THÁI BÌNH – QUỐC LINH

Thứ Sáu, 24/03/2006, 04:52 (GMT+7)

Thành Đoàn – Một thời hoa lửa (kỳ 2): Chiến trường không vũ khí

SVHS biểu tình chống quân sự học đường trên đường phố Sài Gòn năm 1971 – Ảnh t

TT – Đi “tàu bay”, “tàu lặn”, “hút thuốc Salem”…, những đòn tra tấn tàn bạo trong lao tù của kẻ thù với phong trào SVHS là một cuộc chiến tàn khốc. Ở đó, chiến thắng chỉ đến với những ai có ý chí, lòng tin mãnh liệt vào con đường mình đang bước tới… Và họ đã vững tâm bước tới.Giữa lằn ranh sống chết

Trước khi bị bắt đêm 24-1-1975, đoàn viên Nguyễn Văn Nhã, SV Trường ĐH Khoa học (nay là Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM), đã từng nhiều lần xuống đường tranh đấu.

Tại nha cảnh sát đô thành, anh Nhã một mực kêu oan: “Tôi chỉ là SV, thấy bất công xã hội nên đấu tranh”. Thiếu úy Nhơn bắt anh đặt tay lên bàn rồi quật ma trắc. Ngón tay, bàn tay rồi cả cánh tay sưng lên. Đau, nhưng anh nghĩ: đây là cuộc đối đầu không chỉ của ý thức hệ, mà còn là khí tiết của những người cộng sản trẻ tuổi. Khí tiết ấy đã giúp anh đứng lên.

Qua nhiều lần bị tra tấn không khai, anh Nhã bị đưa đến gặp Cù Lũ Nhí – “cao thủ” tra tấn “nổi danh” của cảnh sát quốc gia. Cù Lũ Nhí phủ đầu tâm lý ngay: “Gặp tôi hoặc là khai hoặc là đi luôn!”. Rồi y mở hộc bàn lấy ra mấy cây kim, lạnh lùng cắm từng cây vào ngón tay anh Nhã và gõ thước.

Đến cây thứ năm, anh té xuống bất tỉnh. Hôm sau, Cù Lũ Nhí dùng cây đánh vào xương bánh chè, anh bật té xuống đất. Thấy “dễ chịu” hơn đâm kim, anh chủ động đưa chân lãnh đòn. Cù Lũ Nhí kéo quần anh, gí đầu thuốc vào chỗ kín, anh nghiến răng trấn áp cơn đau thể xác. Đến lần gí thứ tư, anh ngoẹo đầu, sùi bọt mép.

“Biết bao người đã hi sinh, tiếc gì thân mình, quyết không khai”, anh nghĩ vậy khi đang mơ hồ giữa lằn ranh sống chết. Về sau, anh Nhã được bạn tù tôn vinh “anh hùng nha đô thành”, với hàm ý là “người tù gan lì số 1”.

Anh Nguyễn Văn Nhã (trái) – “người tù gan lì số 1” ngày ấy và người bạn chiến đấu một thời Hạ Đình Nguyên (nguyên phó chủ tịch Tổng hội SV Sài Gòn)  – Ảnh: T.Bình

Ngoài anh Nhã, một người nữa cũng từng qua đủ “các món” tra tấn trong lao tù, đó là anh Lê Công Giàu. Anh bị bắt ngày 4-8-1972 và ở nhà lao suốt tám tháng. Thấy anh đeo nhẫn đính hôn, kẻ thù dọa sẽ làm nhục vợ chưa cưới khiến lòng anh rối bời. Điệp khúc “đánh, vô bệnh viện, đánh” cứ lặp đi lặp lại suốt tám tháng trời, có lần một bác sĩ dứt khoát không ký giấy cho anh Giàu xuất viện.Người cuối cùng tra tấn anh Giàu chính là “sát thủ” Cù Lũ Nhí. Sau khi giở hết các ngón đòn thâm độc nhưng không quật ngã được khí tiết người cộng sản trong anh, một buổi tối sau khi uống rượu say khướt, Cù Lũ Nhí bất ngờ xuống nơi giam tù chính trị bắt tay anh Giàu và xin chào thua!

Đối với nữ, cuộc chiến giữ khí tiết còn khốc liệt hơn nhiều. Trong hồi ký của bà Lê Mỹ Lệ (Năm Trang, nguyên phó bí thư Thành đoàn Sài Gòn – Gia Định, nay đã mất) về giai đoạn bị địch bắt đầu năm 1968, có đoạn kể chuyện Năm Trang bị tra tấn liên tục suốt bốn ngày bằng đủ “món” như trói ngoặt tay treo lên, đóng kim gút vào ngón tay, tra điện vào chỗ kín… cho đến khi bị băng huyết xối xả phải đưa vào Bệnh viện Từ Dũ. Các bác sĩ nói với cảnh sát: “Cô này nếu tiếp tục đánh sẽ khó cứu”. Chớp thời cơ, Năm Trang dùng tàn lực để trốn.

“Nhất lý, nhì lì, tam suy, tứ tử”

Chị Đặng Thị Hiền (Tư Khoa) – Ảnh: Q.Linh

Chị Đặng Thị Hiền (Tư Khoa) cho biết cán bộ Thành đoàn ngày ấy có bí quyết “nhất lý, nhì lì, tam suy, tứ tử”. Chuyện anh Ba Vạn, Năm Nghị giả bệnh tật, suy kiệt để tìm cơ hội vượt ngục gọi là “tam suy”. Bản thân chị cũng từng bị bắt vào năm 1973 khi hai cơ sở bị lộ.

Lúc đối chất, chị Hiền không nhận tội vì không có chứng cứ, sau đó lén động viên hai chị nọ phản cung (nhất lý). Lúc về trại Hậu Nghĩa, chị bị đánh dữ dội nhưng nhất quyết không khai (nhì lì), rồi giả vờ như sắp chết tới nơi để được đưa vào Bệnh viện Bình Dân.

Tại bệnh viện, chị nhờ móc nối với các nhà báo nước ngoài đến quay phim “phụ nữ vô tội bị tra tấn đẫm máu”, mẹ chị khóc lóc thảm thiết trước ống kính “con nhỏ đi học về, tui biểu đi chợ mua bông về cúng ông bà”.

Đâu ai biết trước đó một ngày khi mẹ vô thăm, chị nhờ mẹ hôm sau trở lại diễn xuất theo “kịch bản” đó, ai ngờ “bà già diễn quá đạt, cứ như thật”.

Về sau, bị chuyển sang nhà lao Tân Hiệp, chị tiếp tục áp dụng “cẩm nang ở tù” cho đến khi được thả.

“Giáo trình đấu tranh” viết bằng máuTháng 9-1965, tử tù Lê Hồng Tư bị đưa trở lại Côn Đảo. Ba anh Tư, Việt và Vịnh bàn kế hoạch vượt ngục. Đến giờ, họ tựa người vào tường, đứng trên vai nhau, gỡ ngói chui lên, xé áo cột thành dây kéo người lên sau. Vượt qua bốn tường rào kẽm gai, họ mới thoát được ra bên ngoài, đến gần sáng tới được chân núi. Địch truy đuổi ráo riết nên họ lạc nhau.

Chiều xuống, thấy êm, anh Tư ra suối bắt cua ăn sống hai con, để dành hai con cho đồng đội đang trốn đâu đó trong rừng. Sáng hôm sau, anh Tư lọ mọ tìm đường ra thì bị địch phục kích bắt giữ, vài ngày sau hai bạn tù cùng trốn cũng không thoát khỏi “địa ngục trần gian”. Kẻ thù đánh đập tàn nhẫn nên anh Việt suy kiệt nhanh, sau đó hi sinh.

Chuẩn bị đợt 2 Mậu Thân 1968, anh Phan Chánh Tâm (Ba Vạn, nguyên bí thư Thành đoàn Sài Gòn – Gia Định) bị bắt. Địch bắn anh Tâm xuyên từ má phải qua má trái rồi “hốt” lên xe. Tương kế tựu kế, anh giả vờ chết ngất để được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy.

Bác sĩ chỉ định: gãy xương hàm, bể răng, đứt lưỡi. Thấy cô y tá nhìn mình thương xót, anh Tâm nháy mắt ra dấu nhưng tiếp tục nhắm mắt dưỡng sức chờ cơ hội. Đến khoảng 4g sáng, tranh thủ lúc tên cảnh sát ngủ gật, anh ra dấu với y tá, cố ngồi dậy rút kim truyền nước biển, vòng cửa sau thoát ra khỏi phòng, chạy lòng vòng một hồi cũng đến bờ tường để trốn được. Khuôn mặt anh sưng vù, vương đầy máu đến nỗi người chị ruột cũng không nhận ra.

Anh Phạm Chánh Trực (Năm Nghị), nguyên bí thư Thành đoàn Sài Gòn – Gia Định, được đồng đội một thời gọi là “chuyên gia vượt ngục”. Lần thứ nhất là năm 1961. Ở nha cảnh sát, anh Năm Nghị tự làm cho vết thương thêm nặng hơn để được vào Bệnh viện Chợ Quán (nay là Bệnh viện Bệnh nhiệt đới) và lập nhóm vượt ngục.

Họ thường xung phong hứng nước vào ca đêm, leo qua cửa sắt mục, lợi dụng tiếng nước nhỏ tí tách để đục tường. Đến giờ G (ngày 31-12-1961), họ chui qua lỗ đục, leo rào kẽm gai, hòa vào dòng người đi chợ.

Cuối năm 1969, anh Năm Nghị lại bị bắt. Trong tù, anh tìm cách vận động cho khỏe đôi chân, hễ có tiếng động là giả vờ đau đớn. Trên đường đi nhà lao Tân Hiệp, do không bị còng tay, đến cầu Điện Biên Phủ anh đạp bung cửa. “Theo kế hoạch lẽ ra tôi tiếp tục lao xuống rạch rồi đến nhà một người thân gần đó, nhưng xui xẻo bị đám lính gác cầu hốt lại” – anh nhớ lại.

Ở nhà lao Tân Hiệp, sau khi bị đánh đập “cho chừa”, anh Năm Nghị và các bạn tù lại bàn kế hoạch vượt ngục. Thấy có công trình đang xây dựng gần đó, họ quyết định đào địa đạo để “độn thổ”. Lúc đi ăn cơm, họ nhặt một thanh sắt để đào ximăng và lon sữa để cào đất.

Tất cả quần áo được huy động để đựng đất: tối lôi lên, đào suốt đêm, xong lại lấp xuống. Đêm đó, trời bất ngờ đổ mưa, “địa đạo” ngập nước, họ phải chuyển sang “phương án 2” là bẻ cửa. Họ rạch lõm cửa gỗ đủ một người chui, làm từ khoảng 8g tối đến gần sáng mới xong.

Ra khỏi “nhà”, bốn người cởi quần áo khéo léo vượt rào kẽm gai, sau đó công kênh nhau vượt tường có hai tầng kẽm gai gắn đầy pháo sáng. Ra khỏi trại giam, anh Năm Nghị cải trang, thay đổi địa điểm, trốn tránh liên tục, ròng rã từ đêm 20-6-1970 đến đầu năm 1972 mới về đến căn cứ.

Anh Năm Nghị, cũng là một trong những “thầy giáo chiến khu” của Thành đoàn Sài Gòn – Gia Định, nhớ lại: “Tất cả kinh nghiệm đối phó với kẻ thù đều được đưa vào chương trình huấn luyện cán bộ, vì đấu tranh trên chiến trường không vũ khí gần như là điều tất nhiên đối với những người trẻ dám dấn thân đi làm cách mạng”. “Giáo trình đấu tranh” viết bằng máu đó đã thôi thúc họ đứng lên trong mọi tình huống với niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng…

Trong gian nan, hiểm nguy là lúc họ gắn bó với nhau nhất. Giữa bắt bớ, tù đày là những tình yêu đơm hoa kết trái.

Đó là những tình yêu được giấu trong lòng vì sợ người mình yêu phải chờ đợi quá lâu. Đó là những lời thề của tình yêu sắt son, tin vào ngày mai tươi sáng. Và đó là những đám cưới tổ chức trong lao tù, trong căn hầm với phòng tân hôn dã chiến…

THÁI BÌNH – QUỐC LINH

Thứ Bảy, 25/03/2006, 02:16 (GMT+7)

 

Thành đoàn – Một thời hoa lửa (Kỳ 3) – Chuyện tình thời lửa đạn

SVHS Sài Gòn xuống đường đấu tranh – Ảnh tư liệu

TT – Giữa cuộc chiến máu đổ, bắt bớ, tù đày…, tình yêu đôi lứa vẫn sinh sôi. Tình yêu đó đã động viên họ bước tới, đi qua những gian nan trong chốn lao tù. Và những lời thề chung thủy ngày nào cho đến bây giờ vẫn còn sắt son, dù người còn người mất.Giữ trọn lời thề

Lê Quang Lộc và Huỳnh Quan Thư được tổ chức bí mật phân công chung liên danh tranh cử vào ban đại diện SV Trường ĐH Văn khoa niên khóa 1966-1967. Lúc mới gặp nhau, chị Thư thầm nghĩ: tay Lộc cứ như công tử bột, chẳng ra vẻ “cách mạng” gì ráo.

Dần dà thấy anh Lộc làm việc nhiệt tình, khiêm tốn, đứng đắn nên Thư bắt đầu “để ý”. Tuy vậy, ngoài những buổi làm việc chung, Thư cố ý tránh né vì nghi ngờ anh Lộc không phải “phe ta”.

Đùng một cái, anh Lộc đi gặp anh Ba Triết (tức Nguyễn Ngọc Phương, ủy viên thường vụ Thành đoàn kiêm bí thư Đoàn ủy SV) nói là đã “chấm” Thư và nhờ “giữ hộ”. Từ đó, họ âm thầm chấp nhận tình cảm và kín đáo chăm sóc cho nhau.

Sau Tết Mậu Thân, anh Lộc thoát ly. Được tin, lòng Thư dâng lên nỗi buồn man mác. Chị lên lầu ba ĐH Văn khoa nhìn về phía chân trời xa lắc.

Chính tại nơi này anh Lộc đã từng thổ lộ với chị: “Mình đã yêu mà không dám nói ra vì sợ mai mốt ở tù lâu người ta chờ tội nghiệp”. Lần đó, anh suýt nắm tay chị, nhưng anh dằn lòng rồi ngập ngừng bước xuống cầu thang.

Bẵng một tuần sau, truyền hình Sài Gòn phát lệnh truy nã anh Lộc vì anh nằm trong danh sách đại diện SV trong Liên minh Dân tộc dân chủ và hòa bình VN (cùng với Hồ Hữu Nhựt, Lê Hiếu Đằng, Trần Thiện Tứ…) được lập trong chiến khu.

Do hòm thư của liên minh đặt ở nước Pháp nên có khi hai, ba tháng họ mới nhận được thư nhau. Lá thư đầu tiên anh viết “rừng khuya lạnh, nhớ em nhiều”. Một ngày nọ, anh Lộc gửi thư “báo cho em mừng, bà già đã chịu em rồi!”.

Cuối năm 1968, chị bị bắt, sau đó một năm được thả do địch không có bằng chứng kết tội. Một ngày tháng 12-1970, chị nhận được tin vui bất ngờ “theo giao liên vào căn cứ Thành đoàn”. Họ đã trùng phùng trong nước mắt tại căn cứ Thành đoàn bên dòng sông Sở Thượng (giáp biên giới Campuchia).

Tháng 4-1971, đường dây bị lộ không thể đón cơ sở vào căn cứ học tập nên Thành đoàn khuyến khích các đôi tranh thủ lo “việc riêng”.

Vào ngày cưới của họ, những chùm hoa ô môi mộc mạc bên dòng Sở Thượng được kết đầy căn phòng tân hôn dã chiến. Một lần hành quân dời cứ bị máy bay địch tấn công, cả hai nhảy xuống một căn hầm, bất chợt họ nhìn nhau đầy lo lắng.

Sau lần đó vợ chồng rút kinh nghiệm: mỗi người nhảy xuống một hầm, lỡ có bề gì cũng còn một người nuôi con, rồi cũng phải sinh thêm một đứa con để lỡ cả hai hi sinh thì các con tự nâng đỡ nhau. “Còn nếu anh hi sinh?”, Lộc hỏi vợ. Thư trả lời: “Thì em ở vậy suốt đời”.

Ngày 15-4-1975, trên đường hành quân về Sài Gòn, đơn vị của anh Lộc lọt vào ổ phục kích của đối phương. Trước đó, anh viết thư về nhờ giao liên đưa con trai Vĩnh Linh, khi đó mới hơn 3 tuổi, vào cho anh thấy mặt, cha con quây quần với nhau được 10 ngày, lần đầu cũng là lần cuối. Anh đã hi sinh khi chưa biết mặt con gái Thanh An.

Chị Thư sau đó về công tác tại Quận đoàn Bình Thạnh, ban thiếu nhi Thành đoàn rồi Cửa hàng Bách hóa tổng hợp TP.HCM và hiện đang kinh doanh sơn mài ở Q.1, TP.HCM. Giữ vẹn lời thề thuở trước, chị vẫn ở vậy nuôi con, một lòng sắt son với người chồng liệt sĩ. Chị nói: “Với tôi, anh ấy không chết mà chỉ là đi xa chưa về”.

Đám cưới trong nhà tù

Ảnh: Q.Linh

Những kỷ vật của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương đã đồng hành cùng cô Quế Hương suốt 33 năm qua. Sau giải phóng, cô đi Nông trường Thái Mỹ (Củ Chi), đến năm 1978 về Đà Lạt sống cùng mẹ và công tác ở Hội LHPN tỉnh Lâm Đồng, rồi Mặt trận Tổ quốc tỉnh, hiện nghỉ hưu tại TP Đà Lạt (Lâm Đồng).

Bao nhiêu hình ảnh, kỷ vật, cả những mẩu báo phân ưu ngày ấy đều được cô lưu giữ cẩn thận, bởi đó là những gì thiêng liêng nhất với cô. Và còn nhiều lá thư khác giữa hai người mà chỉ mỗi cô dâu của “đám cưới trong nhà tù” được đọc.

Có lẽ đến hết cuộc đời mình chị Cao Thị Quế Hương không thể nào quên ngày 24-2-1968, ngày cô giáo triết học Trường Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) gặp anh Nguyễn Ngọc Phương (Ba Triết, bí thư Đoàn ủy SV).Đó là người đại diện SV giải phóng mà chị nhớ mãi về khả năng đánh giá, phân tích tình hình chính trị uyên thâm. Thời gian này anh Ba Triết là lãnh đạo trực tiếp hỗ trợ chị Quế Hương phụ trách phong trào SV tại ĐH Văn khoa nên họ có nhiều cơ hội gặp nhau.

Năm 1969, anh Ba Triết bị bắt, bốn tháng xa nhau cũng là khoảng thời gian thử thách tình cảm của hai người. Chị nhận ra mình không thể thiếu anh trong cuộc đời.

Đường phố Sài Gòn những năm 1970 đầy cảnh sát, mật vụ vì hầu như ngày nào cũng có biểu tình. Có lần sau khi học xong bài “giữ gìn khí tiết cách mạng”, từ chiến khu trở về nội thành anh Ba Triết dặn người yêu: “Nếu chẳng may bị bắt, em cố gắng chịu đựng mà về với anh, dù em còn bộ da bọc xương cũng ráng mà về với anh”.

Ngày 5-3-1970, trên đường đi công tác, họ bị địch bắt đưa về nhốt chung với gần 40 anh em khác. Sau hai tuần đánh đập, 20 người được thả. Để giảm nhẹ tội cho chị, anh Ba Triết khai nhận chị là vợ, làm giao liên cho chồng chứ không biết gì về tổ chức. Ngày 20-4-1970, họ bị đưa ra tòa, 10 người được thả trong đó có chị.

Ra tù, mỗi tuần chị được 10 phút thăm chồng, gọi là chồng vì vào ngày họ bị bắt là còn đúng một tuần nữa hai người sẽ thành thân. Một ngày giữa tháng 6-1970, gia đình anh lên Đà Lạt xin nhận dâu.

Mẹ anh trao cho chị cặp nhẫn cưới, thắp nén nhang lên bàn thờ tổ tiên xin chứng giám. Đó là một đám cưới không có chú rể cũng chẳng có quan khách, tiệc tùng. Lần thăm nuôi sau đó, chị cùng mẹ chồng và một vài người bạn mang theo chiếc bánh do em gái chú rể tặng để làm “cỗ cưới” cho anh trai.

Cũng chỉ kịp nhìn vào mắt nhau, trao cho nhau chiếc nhẫn cưới rồi phải ra về. Sau này, mẹ chồng, bạn bè và đồng đội có mặt hôm ấy gọi đó là “đám cưới trong nhà tù”.

Trong những lần thăm nuôi ngắn ngủi, họ đã lén trao nhau những lá thư chan chứa yêu thương. Đó là nhật ký của bao nỗi nhớ thương khắc khoải được viết từng ngày.

Bức thư ngày 2-6-1972, anh viết: “Tối nay lại mưa, mát nhưng buồn. Em ở nhà chỉ với mẹ thì vắng quá phải không, xa nhau đã vắng rồi. Em ráng chịu đựng với anh nghe, anh thì thương em một trăm kiếp, hẹn nhau kiếp sau, gặp nhau kiếp này không đủ đâu em. Nhiều lúc mơ mộng anh muốn mình trẻ mãi được trăm năm để sống với nhau”.

Và đây là nội dung bức thư đề ngày 5-6-1972: “Anh lại bắt đầu tháng thứ 28 trong tù và như vậy mình đã xa nhau hơn 800 ngày”.

Suốt ba năm đằng đẵng đợi chờ, người vợ trẻ chưa một lần được tựa vai chồng vẫn giữ niềm tin. Một ngày đầu năm 1973, khi vừa xách giỏ vào đến cổng nhà tù Chí Hòa, chị nhận được hung tin: anh Phương hôn mê và được đưa ra Bệnh viện Sài Gòn.

Trên đường lao ra bệnh viện, chị thầm nuôi hi vọng có cơ hội cùng chồng trốn đi. Nhưng niềm hi vọng mong manh của chị không thành sự thật. Người chiến sĩ dũng cảm đã ra đi…

THÁI BÌNH – QUỐC LINH

Thứ Hai, 27/03/2006, 03:23 (GMT+7)

 

Thành đoàn – Một thời hoa lửa: Những đóa hoa bất tử

Liệt sĩ Trần Bội Cơ (dấu X) chụp chung với các bạn học năm 1949. Đứng bìa phải là Trần Bội Anh, em gái Trần Bội Cơ – Ảnh tư liệu gia đình

TT – 221 là con số thống kê chưa đầy đủ về các liệt sĩ của Thành đoàn đã hi sinh trong một phần tư thế kỷ (1950-1975).

Sự hi sinh anh dũng của họ ở tuổi thanh xuân để lại cho bao thế hệ thanh niên hình ảnh của những đóa hoa bất tử. Họ ngã xuống để người khác được sống, để động viên những người đi tới vững bước hơn…

Ươm mầm sự sống

Ông Phạm Đắc Lộc cho chúng tôi xem những tấm ảnh hiếm hoi còn lại của con gái – liệt sĩ Phạm Thị Thu Vân. Ông Lộc kể rằng khi mới 7-8 tuổi, Vân đã theo mẹ đi mittinh, biểu tình, cứu trợ lũ lụt… Năm 1954, khi ông Lộc ra tù, Vân tròn 5 tuổi. Lúc đầu, cô bé không chịu nhận cha vì “ba của con ở Côn Đảo”.

Đến năm 1959, bố mẹ lại bị bắt khi Vân mới 10 tuổi. Sự kiện đó đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong suy nghĩ của Vân. Mãi sau này ông Lộc mới biết con gái của ông đã trở thành một trong những nhân vật tổ chức đấu tranh của HS Trường Lê Văn Duyệt (nay là Trường THPT Võ Thị Sáu, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) với bí danh Bảy Thủy.

Năm 1967, ở Côn Đảo, ông nhận được thư con gái kể chuyện đi thăm mẹ ở nhà lao Phú Lợi, còn lá thư cuối cùng Thu Vân hứa với ông rằng “con sẽ trở thành người có ích”.

Sự hi sinh của liệt sĩ Thu Vân gắn liền với sự sống của Khao Kiến Quốc (bí danh Bé Đào). Cậu bé người gốc Hoa ấy là giao liên nhỏ tuổi nhất Thành đoàn lúc bấy giờ. Đợt hai năm Mậu Thân 1968, Quốc và hai chị Vân, Bua được giao nhiệm vụ dẫn đường cho một cánh quân tiến vào nội thành Sài Gòn.

Do giao tranh ác liệt trên đường hành quân, họ bị rớt lại giữa vòng vây địch, phải nấp dưới hầm một ngôi nhà bị cháy trơ nền. Đêm xuống, từng người rón rén chui lên tìm chút nước uống cầm hơi. Chị Vân dặn Quốc: “Chết thì chết, không đầu hàng nghe em!”.

Ngày thứ ba, kẻ thù ném một trái lựu đạn xuống hầm. Khi thấy một đốm lửa lóe sáng, Quốc bình thản nhắm mắt chờ chết, chị Vân bất ngờ choàng người lên cậu bé. Tỉnh dậy, Quốc thấy mình nằm trên mặt đất, máu ra nhiều ở hai chân, còn xác hai chị Vân, Bua nằm trên một đống rơm.

Địch đưa Quốc lên trực thăng chở đi. Từ trên cao, Quốc thấy hai chị nằm trơ trọi giữa cánh đồng mênh mông. Về Sài Gòn, Quốc bị đem vứt vô bệnh viện. Nhờ một người đạp xích lô tốt bụng, anh nối được liên lạc với gia đình.

Gần 40 năm trôi qua, Bé Đào ngày ấy bây giờ đã là một người đàn ông ngoài 50 tuổi, trong nhà ông thờ một người con gái mặc áo trắng học trò. Nhiều năm qua, Quốc thay chị Vân chăm sóc song thân chị đang tuổi xế chiều. Nhiều lần anh tìm trở lại chiến trường xưa, thắp nén nhang cho hai người con gái đã dành cho mình sự sống.

Bố mẹ liệt sĩ Thu Vân – Ảnh: Thái Bình

Những trận đòn trong tù và cú sốc mất con khiến bà Quế, mẹ Thu Vân, lúc trở về có dấu hiệu bệnh tâm thần. Ông Lộc giờ tóc bạc trắng, bệnh tật triền miên. Hồi trước, do làm cách mạng phải vào tù ra khám nên vợ chồng ông không dám có thêm con, giờ chỉ có hai vợ chồng đêm ngày bên nhau. Ông bảo giá như Thu Vân còn sống thì nhà ông giờ đã con đàn cháu đống. Nhưng rồi ông nghĩ sâu xa hơn: “Mình đã chọn sự hi sinh, con gái mình cũng tìm đến sự hi sinh, đã hi sinh thì đâu ai nghĩ đến riêng mình”.

Mãi mãi thanh xuânNữ liệt sĩ Trần Bội Cơ còn một người em gái tên Trần Bội Anh hiện đang sống tại Q.5, TP.HCM. Theo lời bà Anh, bố mẹ bà gốc người Phúc Kiến (Trung Quốc), nhưng chị em bà sinh ra và lớn lên ở Vĩnh Long, sau đó được gửi lên Sài Gòn ăn học.

Vào ngày 4-5 hằng năm, các trường của người Hoa ở Sài Gòn lúc bấy giờ bị đóng cửa vì trước đó đã từng có bạo động của học sinh vào ngày này. Bội Cơ và các bạn học quyết tâm đấu tranh đòi bãi bỏ qui định ấy. Ngày 6-5-1950, trong lúc đang diễn thuyết trước đám đông học sinh, Bội Cơ bị cảnh sát ập vào lôi về bót tra tấn dã man. Chị hi sinh ngày 12-5-1950 khi mới 18 tuổi.

Bội Cơ bị sát hại lúc cô em gái Bội Anh đã về Vĩnh Long. Biết tình hình Sài Gòn bất ổn nên bố của chị, ông Trần Thủy Nam, tức tốc lên Sài Gòn định đón con gái về nhưng không kịp. Tại nhà xác Bệnh viện Chợ Rẫy, ông Nam đã ngất xỉu khi thấy thân xác không toàn vẹn của Bội Cơ.

Lo sợ xảy ra một “sự kiện trò Ơn” thứ hai, chính quyền cho phép ông Nam làm đám tang nhưng phải chôn ngay và không được tụ tập đông người. Ông Nam mua nguyên cây vải quấn xác Bội Cơ, nhưng những giọt máu tươi của người con gái vẫn nhỏ xuống trên suốt dọc đường về nơi yên nghỉ. Mặc cho cảnh sát ngăn cản, nhiều người vẫn cứ đi theo tiễn biệt người con gái kiên trung.

Sau cái chết của chị, có hơn 300 lá thư từ khắp nơi gửi về, nhiều người tìm đến nhà chia sẻ. Ngày 2-9-1950, Trần Bội Cơ được Nhà nước VN dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2, và đến năm 2000 được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày 30-4-1975, mộ chị được di dời từ Q.11 về nghĩa trang Lạc Cảnh, sau đó về yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM. Bà Trần Bội Anh, 73 tuổi, nói: “Nhà chỉ có chị Cơ là trẻ mãi”.

Thêm vững tin bước tới

Đến tận bây giờ bà Huỳnh Ngọc Thu – cựu nữ sinh Trường Gia Long (nay là THPT Nguyễn Thị Minh Khai, TP.HCM) – vẫn còn nhớ như in hình ảnh “anh Ba học sinh” Đỗ Ngọc Thạnh – một thanh niên đậm người, da ngăm, nói năng khiêm tốn, hằng ngày lọc cọc đạp xe đến các điểm hẹn tổ chức phong trào đấu tranh của SVHS.

Còn với bà Huỳnh Ngọc Thanh (chị bà Thu), anh Thạnh là một lãnh đạo phong trào đáng nể: “Anh hướng dẫn tôi phương pháp vận động quần chúng đấu tranh”. Trong cuộc biểu tình ngày 9-1-1950 dẫn đến sự kiện “đám tang trò Ơn”, mặc dù đã bị lộ nhưng anh Thạnh vẫn chạy như con thoi trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Để kéo bà Thanh ra khỏi những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, anh Thạnh còn cho mượn những cuốn sách “tiến bộ” như Chùm nho phẫn nộ, Thép đã tôi thế đấy, Người mẹ…

Theo lời bà Đỗ Thị Kim Oanh, anh trai Đỗ Ngọc Thạnh của bà ngày trước là đứa con “cứng đầu” nhất trong gia đình. Ông Đỗ Như Khương, bố anh Thạnh, khi đó là một quan chức cao cấp ngành địa chính, từng cảnh cáo “đứa nào làm chính trị tao từ luôn”. Và ông đã làm như thế khi biết con trai thoát ly theo cách mạng.

Đầu năm 1947, Đỗ Ngọc Thạnh vào Đảng ở tuổi 17, sau đó được giao phụ trách Hội HS VN Nam bộ, rồi bí thư Đảng đoàn đầu tiên của khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Tháng 11-1951, một tên phản động chỉ điểm và mật thám Pháp đã bắt anh Thạnh tại góc đường Frère Louis-Arras (nay là góc Nguyễn Trãi – Cống Quỳnh).

Đối phương tra tấn anh dã man nhưng không khai thác được gì nên đem thủ tiêu, ném xác xuống cầu Kinh (Thanh Đa). Đến năm 2000, Đỗ Ngọc Thạnh được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhớ về “anh Ba” Đỗ Ngọc Thạnh, bà Huỳnh Ngọc Thanh nói trong xúc động: “Những lúc bị tra tấn khốc liệt, tôi lại nghĩ tới tấm gương hi sinh anh dũng của anh Ba để tự động viên mình thêm vững tin bước tới”.

THÁI BÌNH – QUỐC LINH

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: