Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – 'những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ dần dần tan biến' – Tướng Douglas MacArthur

 

Chiến tranh thế giới 2 kết thúc, khối phát xít bị tiêu diệt. 2 khối còn lại Đồng Minh Tư Bản và Đồng Minh Xã Hội Chủ Nghĩa vừa kình địch, vừa hoà hoãn nhau phân chia lại thế giới.

Ở một số quốc gia, 2 khối không thể thống nhất với nhau toàn bộ lãnh thổ sẽ thuộc về phe Tư Bản hay Xã Hội Chủ Nghĩa. Nên cả 2 thống nhất sẽ chia đôi đất nước để giải giáp quân Nhật, sau đó rút đi để quốc gia đó tự do tuyển cử theo chế độ nhân dân nước đó muốn (ví dụ điển hình là Hàn Quốc, Việt Nam).

Tuy nhiên, trong thời gian chiếm đóng các quốc gia này, các phe cố gắng nhanh chóng xây dựng/ủng hộ lực lượng chính trị địa phương thân với phe của mình, với hy vọng lực lượng chính trị đó sẽ thắng trong cuộc tổng tuyển cử.

Vì vậy, khi các cường quốc “rút đi”, sẽ để lại 2 lực lượng chính trị địa phương thù địch nhau quá gay gắt, nên tổng tuyển cử chỉ diễn ra 1 cách hình thức và nội chiến nổ ra. Đó là trường hợp của Hàn Quốc (và cả Việt Nam).

1950, một cuộc chiến khốc liệt diễn ra giữa Nam Bắc Hàn với sự hậu thuẫn ngầm và công khai của 2 khối làm thiệt hại 2.5 triệu dân và khoảng 1 triệu binh sĩ (Wikipedia – con số này có thể thay đổi tuỳ theo nguồn). Thủ đô Seoul thành 1 đống gạch vụn với 4 lần đổi chủ chỉ trong 1 năm.

Tháng 3 năm 1951, chiến sự 1 lần nữa xoay chuyển theo chiều hướng có lợi cho khối Tư Bản (do quân Trung Quốc bắt đầu hụt hơi do khó khăn trong tiếp vận), tổng thống Truman báo cho tư lệnh MacArthur, đang phụ trách khu vực này, về việc đề xướng các cuộc hội thảo ngưng bắn, vì lo ngại chiến tranh leo thang sẽ dẫn Liên Xô công khai tham chiến và mở rộng quy mô chiến tranh.

Tướng MacArthur không đồng ý, tự mình ra tối hậu thư cho quân Trung Quốc, yêu cầu được quyền quyết định chuyện ném bom nguyên tử (quyền này đang trong tay tổng thống), kêu gọi sự ủng hộ chiến tranh trên các phương tiện truyền thông và trước quốc hội.
Tháng 4 năm 1951, MacArthur bị giải chức chủ yếu với lý do quân sự (trước đó vào tháng 11 quân Đồng Minh đã thiệt hại rất nặng do Trung Quốc tấn công bất ngờ), nhưng nhiều người tin rằng là do ông chống lại đường lối của tổng thống.

Đây là bài diễn văn chia tay của MacArthur, bài văn này thể hiện sự cố gắng cuối cùng của ông trong việc thuyết phục quốc hội Mỹ tiến hành chiến tranh đến cùng (chứ không chỉ tái chiếm lại biên giới Nam Hàn và đàm phán), nó thể hiện ý chí quyết chiến đến cùng của ông.

Trong bài này đưa ra rất nhiều giả định và lý luận (chủ yếu là về tư tưởng bành trướng lãnh thổ của phe XHCN), mà ngày nay chúng ta cũng không biết là đúng hay sai (vì tình hình kinh tế nhiều thay đổi, làm ảnh hưởng đến chính trị và quân sự). Nhưng vào thời điểm đó, có rất nhiều người Mỹ tin vào các lý luận này, và quyết định giải chức tướng Arthur vấp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ tại Hoa Kỳ

Về tướng MarArthur (Wikipedia)

Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 – 5 tháng 4 năm 1964) là một vị tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army). Ông là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1930 và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. MacArthur đã nhận được Huân chương Danh dự. Ông được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản mà đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy không còn cần thiết nữa, MacArthur chính thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945.

MacArthur giám sát cuộc chiếm đóng Nhật Bản từ 1945 đến 1951 và được công nhận vì những đóng góp cho những thay đổi dân chủ sâu rộng của đất nước này. Ông chỉ huy Tổng lực lượng quân sự do Liên hiệp quốc lãnh đạo để bảo vệ Nam Triều Tiên trước sự tấn công của Bắc Triều Tiên từ 1950–1951. MacArthur bị Tổng thống Harry Truman cắt chức tư lệnh tháng 4 năm 1951 vì không nghe lời thượng cấp liên quan đến việc ông không tuân theo các chỉ thị của tổng thống.

Ông được biết đến với câu nói quân sự nổi tiếng: “In war, there is no substitute for victory” (Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). MacArthur đã chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn (Đệ nhất Thế chiến, Đệ nhị Thế chiến và Chiến tranh Triều Tiên) và là một trong 5 người được phong quân hàm Thống tướng (General of the Army).

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu và bình)

Tướng Douglas MacArthur biện hộ
Cách lãnh đạo chiến tranh của ông trong cuộc chiến Triều Tiên
19 tháng 4, 1951

Thưa Tổng thống, Chủ tịch Hạ viện và các Nghị Sĩ đại diện trong Quốc hội:

Tôi đứng trên bục đài này với một cảm giác vô cùng khiêm nhường và với niềm tự hào to lớn – khiêm nhường dưới bóng những kiến trúc sư vĩ đại trong lịch sử của chúng ta đã đứng đây trước tôi, tự hào trong suy niệm rằng đây là tòa nhà thảo luận lập pháp đại diện cho quyền tự do của loài người trong hình thức tinh khiết nhất đã từng được sáng tạo.

Đây là nơi hy vọng và ước vọng và đức tin của toàn bộ loài người quy tụ.

Tôi không đứng đây như là người biện hộ cho mục đích đảng phái nào, bởi vì các vấn đề [của chúng ta] rất cơ bản và hoàn toàn vượt ra ngoài lĩnh vực cân nhắc đảng phái. Chúng phải được giải quyết với mức độ tối cao của lợi ích quốc gia nếu ta muốn chứng minh rằng chúng ta đang đi đúng hướng, đồng thời bảo vệ tương lai của chúng ta.

Do đó, tôi tin tưởng, rằng các bạn sẽ công bình chấp nhận lời tôi nói là chỉ thể hiện quan điểm của một đồng bào Mỹ.

Tôi nói với các bạn, không hận thù cũng như không cay đắng vào lúc hoàng hôn xế bóng của cuộc đời, với một mục đích trong tâm: để phục vụ đất nước tôi.

Các vấn đề [của chúng ta] là toàn cầu, và liên kết rất chặt chẽ với nhau, nên quan tâm đến vấn đề của một lãnh vực mà không hề biết đến vấn đề của các lãnh vực khác là mời mọc thảm họa cho toàn bộ. Trong khi châu Á thường được cho là cửa ngõ vào châu Âu, sự thật không kém thật một chút nào là châu Âu cũng là cửa ngõ đến châu Á, và ảnh hưởng rộng lớn của nơi này không thể không có tác động đến nơi kia.

Có những người cho rằng chúng ta không có đủ sức mạnh để bảo vệ cả hai mặt trận, rằng chúng ta không thể phân chia nỗ lực của chúng ta. Tôi không thể nghĩ có biểu hiện nào của bại chiến luận to tát hơn thế.

Nếu một kẻ thù nào đó có thể phân chia sức mạnh của hắn trên hai mặt trận, chúng ta phải chống lại những nỗ lực. Mối đe dọa Cộng sản là mối đe dọa toàn cầu. Sự bành trướng thành công của Cộng sản trong một lĩnh vực đe dọa sự hủy hoại của tất cả các lĩnh vực khác. Bạn không thể nhân nhượng hay nói cách khác là đầu hàng Cộng sản ở châu Á mà không đồng thời làm suy yếu những nỗ lực của chúng ta để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng sản ở châu Âu.

Ngoài việc chỉ ra những lẽ thật phổ thông này tôi sẽ giới hạn thảo luận của tôi đến các khu vực chung của châu Á …

Trong khi tôi không được tham khảo ý kiến trước về quyết định của Tổng thống can thiệp để ủng hộ Cộng hòa Hàn quốc, quyết định đó, từ quan điểm quân sự, được chứng minh là đúng đắn. Như tôi nói, quyết định đó đã được chứng minh là đúng đắn, khi chúng ta đẩy lui kẻ xâm lược và làm tiêu hao quân đội của hắn. Chiến thắng của chúng ta đã hoàn tất, và mục tiêu của chúng ta nằm trong tầm tay, khi Trung Quốc Đỏ can thiệp với lực lượng bộ binh hùng hậu đông đảo hơn chúng ta.

Điều này tạo ra một cuộc chiến mới và một tình hình hoàn toàn mới, một tình huống chúng ta không dự tính khi các lực lượng của chúng ta được đưa vào chống lại quân xâm lược Bắc Triều Tiên; tình hình kêu gọi các quyết định mới trong lĩnh vực ngoại giao để cho phép các điều chỉnh thực tế về chiến lược quân sự. Những quyết định như vậy vẫn chưa có.

Trong khi không có ai tỉnh táo lại ủng hộ việc gửi các lực lượng bộ binh của chúng ta vào lục địa Trung Quốc, và không ai từng nghĩ đến việc đưa quân như vậy, tình hình mới đã cấp bách đòi hỏi một sửa đổi lớn trong kế hoạch chiến lược nếu mục đích chính trị của chúng ta là để đánh bại kẻ thù mới này như chúng ta đã đánh bại kẻ thù cũ.

Ngoài các nhu cầu quân sự, như tôi đã nhìn thấy, để vô hiệu hóa vùng bảo dưỡng của kẻ thù ở phía bắc sông Áp Lục, tôi thấy rằng nhu cầu quân sự trong cuộc chiến đòi hỏi —

(1) Tăng cường phong tỏa kinh tế Trung Quốc.

(2) Áp dụng phong tỏa hải quân tại bờ biển Trung Quốc.

(3) Loại bỏ các hạn chế về máy bay trinh sát vùng duyên hải Trung quốc và Mãn Châu.

(4) Loại bỏ các hạn chế đối với các lực lượng của nước Cộng Hòa Trung Hoa ở Đài Loan, với hỗ trợ hậu cần để đóng góp vào những hoạt động hiệu quả chống lại Trung Quốc đại lục.

Vì có những quan điểm, những quan điểm đã được hoạch định chuyên nghiệp để hỗ trợ các lực lượng mà chúng ta đã đưa vào Hàn Quốc và chấm dứt chiến tranh với ít trì hoãn nhất và bảo vệ vô số mạng sống của Mỹ và đồng minh, tôi đã bị chỉ trích kịch liệt bởi các nhóm dân sự, chủ yếu là ở nước ngoài, bất kể sự hiểu biết của tôi là, theo quan điểm quân sự, những quan điểm trên [của tôi] đã được hoàn toàn chia sẻ trong quá khứ bởi hầu hết tất cả các nhà lãnh đạo quân sự quan tâm tới chiến trường Hàn Quốc, bao gồm ngay cả Bộ trưởng Tham mưu của chúng ta.

Tôi đã kêu gọi quân tiếp viện, nhưng được thông báo rằng không có quân tiếp viện không. Tôi đã nói rõ là nếu không được phép để tiêu diệt các căn cứ dồn quân của kẻ thù ở phía bắc của sông Áp Lục, nếu không được phép sử dụng các lực lượng Trung Quốc thân thiện gồm khoảng 600.000 người trên đảo Đài Loan, nếu không được phép phong tỏa bờ biển Trung Quốc để ngăn chặn Trung Quốc Đỏ nhận viện trợ bên ngoài, và nếu không có hy vọng có nhiều quân tiếp viện, trên quan điểm quân sự, vị trí lãnh đạo như vậy ngăn cấm sự chiến thắng.

Chúng ta có thể cầm quân ở Hàn Quốc bằng cách vận hành liên tục và ở tại khu vực mà lợi thế tiếp liệu của ta thì bằng bất lợi thế tiếp liệu của kẻ thù, nhưng cùng lắm là chúng ta chỉ có thể hy vọng cho một chiến dịch thiếu quyết đoán với sự hao mòn khủng khiếp và thường trực áp đặt lên lực lượng của chúng ta nếu kẻ thù sử dụng tất cả khả năng quân sự của hắn.

Tôi đã liên tục kêu gọi cho các quyết định chính trị mới cần thiết cho một giải pháp.

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để làm bóp méo quan điểm của tôi. Đến mức có người đã nói tôi là một kẻ mê chiến tranh. Không gì có thể khác xa sự thật hơn vậy.

Tôi biết chiến tranh như chỉ môt ít người hiện còn sống biết chiến tranh, và đối với tôi không có gì đáng ghê tởm hơn chiến tranh. Từ lâu tôi đã hoàn toàn ủng hộ việc bãi bỏ chiến tranh, vì chiến tranh hủy diệt cả hai, bạn và thù, khiến chiến tranh trở thành vô dụng như một phương tiện để dàn xếp những tranh chấp quốc tế.

Thật vậy, vào ngày 2 tháng Chín, năm 1945, ngay sau khi quốc gia Nhật Bản đầu hàng ở trên chiến hạm Missouri, tôi đã chính thức cảnh báo như sau:

“Loài người kể từ thời khởi thủy đã tìm kiếm hòa bình. Nhiều phương pháp khác nhau qua nhiều thời đại đã được thử để đưa ra một quá trình quốc tế để ngăn chặn hoặc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. Ngay từ khi bắt đầu cho đến nay, những phương pháp khả thi đã được tìm thấy là dành cho cá nhân các công dân, nhưng cơ chế của một công cụ hữu hiệu lớn hơn trên phạm vi quốc tế chưa bao giờ thành công.”

“Liên minh quân sự, cân bằng quyền lực, các liên đoàn quốc gia, tất cả đều lần lượt thất bại, để lại con đường duy nhất là con đường thử thách của chiến tranh. Giờ đây, sự hủy diệt hoàn toàn của chiến tranh ngăn chặn sự lựa chọn này. Chúng ta đã có cơ hội cuối cùng. Nếu chúng ta không lập ra một hệ thống lớn hơn và công bằng hơn, Trận Chiến Hủy Diệt Cuối Cùng sẽ có mặt ngay ngưỡng cửa của chúng ta. Vấn đề cơ bản là thần học và liên quan đến sự hoạt động tâm linh, một sự cải tiến nhân tính đi đồng bộ với sự tiến bộ gần như không thể bì kịp trong khoa học, nghệ thuật, văn học, và tất cả các phát triển vật chất và văn hóa của 2000 năm qua. Phải là phần hồn, nếu chúng ta muốn cứu rỗi phần xác.”

Nhưng một khi chiến tranh đã bị áp đặt lên chúng ta, không có sự chọn lựa nào hơn là áp dụng mọi phương tiện sẵn có để chấm dứt chiến tranh nhanh chóng. Đối tượng chính của chiến tranh là chiến thắng, không phải là sự kéo dài do dự.

Trong chiến tranh không có gì để thay thế chiến thắng.

Có một số người vì những lý do khác nhau sẽ làm hài lòng Trung Quốc Đỏ. Họ mù lòa trong bài học rõ ràng của lịch sử, lịch sử dạy với sự nhấn mạnh không thể nhầm lẫn rằng nhượng bộ chỉ lại sinh ra chiến tranh mới và đổ máu nhiều hơn. Không có trường hợp nào trong lịch sử mà mục đích này biện minh cho phương tiện đó, mà nhượng bộ đã dẫn đến cái gì hơn là một hòa bình giả tạo.

Giống như tống tiền, nó đặt cơ sở cho đòi hỏi mới và liên tục gia tăng cho đến khi, như trong tống tiền, bạo lực trở thành một lựa chọn duy nhất. Tại sao, những người lính của tôi đã hỏi, hiến dâng những lợi thế quân sự cho kẻ thù trên chiến trường? Tôi không thể trả lời.

Vài người có thể nói để tránh sự lây lan xung đột vào một cuộc chiến toàn diện với Trung Quốc. Những người khác, để tránh sự can thiệp của Liên Xô. Cả hai giải thích đều dường như không hợp lý, vì Trung Quốc đã ứng chiến vào với lực lượng tối đa nhất mà Trung Quốc có thể sử dụng, và Liên Xô sẽ không nhất thiết phải xía vào đường đi của chúng ta. Giống như rắn hổ mang, một kẻ thù mới nào cũng thích tấn công nơi nào nó có thuận lợi hơn về quân sự hay về tiềm lực nào đó trên bình diện quốc tế.

Thảm kịch của Hàn Quốc tiếp tục gia tăng bởi thực tế rằng hoạt động quân sự của Hàn Quốc bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Hàn Quốc. Điều đó đã kết án Hàn quốc, mà chúng ta muốn cứu, kết án Hàn quốc phải chịu đựng toàn bộ những tác động tàn phá của bom đạn của hải quân và không quân, trong khi các khu vùng bão dưỡng của đối phương hoàn toàn được bảo vệ để khỏi bị tấn công và tàn phá như vậy.

Trong số các quốc gia trên thế giới cho đến nay, chỉ Hàn Quốc là nước duy nhất liều lĩnh tất cả để chống lại chủ nghĩa cộng sản. Sự vĩ đại của lòng can đảm và ý chí dũng cảm của người dân Hàn Quốc thật là không thể diễn tả được. Họ đã chọn liều mạng sống chứ không chọn chế độ nô lệ. Lời cuối cùng của họ với tôi: “Xin đừng vội vã rời bỏ Thái Bình Dương.”

Tôi mới rời những người con chiến đấu của các bạn tại Hàn Quốc. Họ đã vượt qua tất cả những thử thách, và tôi có thể báo cho bạn biết mà không cần do dự rằng họ rất tuyệt vời trên mọi phương diện.

Đây là nỗ lực liên tục của tôi để bảo vệ những người lính này và kết thúc cuộc xung đột dã man này một cách vinh dự trong thời gian ngắn nhất và với sự hy sinh mạng sống ít nhất. Sự đổ máu càng ngày càng gia tăng làm cho tôi vô cùng đau khổ và lo lắng. Những người hào hiệp này sẽ vẫn thường ở trong ý nghĩ của tôi và luôn luôn trong lời cầu nguyện của tôi.

Tôi đang khép lại 52 năm nghĩa vụ quân sự. Khi tôi gia nhập quân đội, ngay cả trước khi bước sang thế kỷ này, là để thực hiện tất cả những hy vọng và ước mơ nam nhi của tôi.

Thế giới đã biến chuyển nhiều lần từ khi tôi tuyên thệ nhậm chức trên đồng bằng West Point, và những hy vọng và ước mơ từ lâu đã biến mất, nhưng tôi vẫn nhớ điệp khúc của một trong những bản ballad trong trại binh phổ biến nhất của ngày đó với lời tuyên bố rất hào hùng rằng những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ dần dần tan biến.

Và cũng giống như người lính già của bản ballad đó, giờ đây tôi khép lại cuộc đời binh nghiệp của tôi và chỉ dần dần tan biến. Một người lính già đã cố gắng làm nhiệm vụ của mình như Chúa đã ban cho người ấy ánh sáng để thấy nhiệm vụ đó. Xin tạm biệt.

(Diệu Sương dịch)

General Douglas MacArthur Defends
His Conduct of the War in Korea
April 19, 1951

“Old soldiers never die; they just fade away.”

General Douglas MacArthur’s speech before the joint session of Congress on April 19, 1951, after his abrupt dismissal as Commander in Chief of the United Nations forces in Korea, provoked a nation-wide controversy that recalled the fury over the Kansas-Nebraska Act of 1854.

The son of the distinguished army officer Arthur MacArthur, Douglas MacArthur (1880-1964) was born in Little Rock, Arkansas, was brought up in various army posts, and was graduated from West Point at the head of his class in 1903. He served in the Philippines and Japan, and in the first World War achieved a notable record as Chief of Staff of the famous Rainbow Division and later as Commander of the 84th Infantry Brigade. After the war he was Superintendent of West Point (1919-22), Commander in the Philippines (1922-25), and Chief of Staff (1930-35), during which time he had the unpleasant task of directing troops against the depression “bonus army” that marched against Washington. He went again to the Philippines in 1935 to organize the islands against possible Japanese aggression. He retired from the army in 1939, but returned to duty in July, 1941, barely in time to head the defense of the Philippines after the attack on Pearl Harbor. On order from President Roosevelt, General MacArthur escaped to Australia, there to take command of the Allied forces in the South Pacific and to begin the long road back to Manila – and to Tokyo. At the time of the Japanese surrender on the U.S.S. Missouri General MacArthur broadcast to the world a plea for peace in a high, sonorous vein.

After the Japanese surrender he became Supreme Commander of the Allied forces in Japan and, on South Korea’s being invaded, Commander of the United Nations forces there. He was relieved of both commands on April 11, 1951, when it was feared his strategy would lead to general war with China and the Soviet Union. He immediately flew back to the United States, made a triumphant trip across the country, reminiscent of the triumph of a returning Roman general, and accepted the invitation to speak before both Houses of Congress – an unheard-of procedure in American history.

April 19, 1951

Mr. President, Mr. Speaker and distinguished members of the Congress:

I stand on this rostrum with a sense of deep humility and great pride – humility in the wake of those great architects of our history who have stood here before me, pride in the reflection that this home of legislative debate represents human liberty in the purest form yet devised.

Here are centered the hopes and aspirations and faith of the entire human race.

I do not stand here as advocate for any partisan cause, for the issues are fundamental and reach quite beyond the realm of partisan considerations. They must be resolved on the highest plane of national interest if our course is to prove sound and our future protected.

I trust, therefore, that you will do me the justice of receiving that which I have to say as solely expressing the considered viewpoint of a fellow American.

I address you with neither rancor nor bitterness in the fading twilight of life, with but one purpose in mind: to serve my country.

The issues are global, and so interlocked that to consider the problems of one sector oblivious to those of another is to court disaster for the whole. While Asia is commonly referred to as the gateway to Europe, it is no less true that Europe is the gateway to Asia, and the broad influence of the one cannot fail to have its impact upon the other.

There are those who claim our strength is inadequate to protect on both fronts, that we cannot divide our effort. I can think of no greater expression of defeatism.

If a potential enemy can divide his strength on two fronts, it is for us to counter his efforts. The Communist threat is a global one. Its successful advance in one sector threatens the destruction of every other sector. You cannot appease or otherwise surrender to communism in Asia without simultaneously undermining our efforts to halt its advance in Europe.

Beyond pointing out these general truisms, I shall confine my discussion to the general areas of Asia…

While I was not consulted prior to the President’s decision to intervene in support of the Republic of Korea, that decision, from a military standpoint, proved a sound one. As I say, it proved a sound one, as we hurled back the invader and decimated his forces. Our victory was complete, and our objectives within reach, when Red China intervened with numerically superior ground forces.

This created a new war and an entirely new situation, a situation not contemplated when our forces were committed against the North Korean invaders; a situation which called for new decisions in the diplomatic sphere to permit the realistic adjustment of military strategy. Such decisions have not been forthcoming.

While no man in his right mind would advocate sending our ground forces into continental China, and such was never given a thought, the new situation did urgently demand a drastic revision of strategic planning if our political aim was to defeat this new enemy as we had defeated the old.

Apart from the military need, as I saw it, to neutralize the sanctuary protection given the enemy north of the Yalu, I felt that military necessity in the conduct of the war made necessary —

(1) The intensification of our economic blockade against China.

(2) The imposition of a naval blockade against the China coast.

(3) Removal of restrictions on air reconnaissance of China’s coastal area and of Manchuria.

(4) Removal of restrictions on the forces of the republic of China on Formosa, with logistical support to contribute to their effective operations against the Chinese mainland.

For entertaining these views, all professionally designed to support our forces committed to Korea and to bring hostilities to an end with the least possible delay and at a saving of countless American and Allied lives, I have been severely criticized in lay circles, principally abroad, despite my understanding that from a military standpoint the above views have been fully shared in the past by practically every military leader concerned with the Korean campaign, including our own Joint Chiefs of Staff.

I called for reinforcements, but was informed that reinforcements were not available. I made clear that if not permitted to destroy the enemy built-up bases north of the Yalu, if not permitted to utilize the friendly Chinese force of some six hundred thousand men on Formosa, if not permitted to blockade the China coast to prevent the Chinese Reds from getting succor from without, and if there were to be no hope of major reinforcements, the position of the command from the military standpoint forbade victory.

We could hold in Korea by constant maneuver and at an approximate area where our supply-line advantages were in balance with the supply-line disadvantages of the enemy, but we could hope at best for only an indecisive campaign with its terrible and constant attrition upon our forces if the enemy utilized his full military potential.

I have constantly called for the new political decisions essential to a solution.

Efforts have been made to distort my position. It has been said in effect that I was a warmonger. Nothing could be further from the truth.

I know war as few other men now living know it, and nothing to me is more revolting. I have long advocated its complete abolition, as its very destructiveness on both friend and foe has rendered it useless as a means of settling international disputes.
Indeed, on the second day of September, 1945, just following the surrender of the Japanese nation on the battleship Missouri, I formally cautioned as follows:

“Men since the beginning of time have sought peace. Various methods through the ages have been attempted to devise an international process to prevent or settle disputes between nations. From the very start workable methods were found in so far as individual citizens were concerned, but the mechanics of an instrumentality of larger international scope have never been successful.

“Military alliances, balances of power, leagues of nations, all in turn failed, leaving the only path to be by way of the crucible of war. The utter destructiveness of war now blocks out this alternative. We have had our last chance. If we will not devise some greater and more equitable system, our Armageddon will be at our door.
The problem basically is theological and involves a spiritual recrudescence, an improvement of human character that will synchronize with our almost matchless advances in science, art, literature, and all material and cultural developments of the past two thousand years. It must be of the spirit if we are to save the flesh.”

But once war is forced upon us, there is no other alternative than to apply every available means to bring it to a swift end. War’s very object is victory, not prolonged indecision.

In war there is no substitute for victory.

There are some who for varying reasons would appease Red China. They are blind to history’s clear lesson, for history teaches with unmistakable emphasis that appeasement but begets new and bloodier war. It points to no single instance where this end has justified that means, where appeasement had led to more than a sham peace.

Like blackmail, it lays the basis for new and successively greater demands until, as in blackmail, violence becomes the only alternative. Why, my soldiers asked of me, surrender military advantages to an enemy in the field? I could not answer.

Some may say to avoid spread of the conflict into an all-out war with China. Others, to avoid Soviet intervention. Neither explanation seems valid, for China is already engaging with the maximum power it can commit, and the Soviet will not necessarily mesh its actions with our moves. Like a cobra, any new enemy will more likely strike whenever it feels that the relativity in military or other potential is in its favor on a worldwide basis.

The tragedy of Korea is further heightened by the fact that its military action is confined to its territorial limits. It condemns that nation, which it is our purpose to save, to suffer the devastating impact of full naval and air bombardment while the enemýs sanctuaries are fully protected from such attack and devastation.

Of the nations of the world, Korea alone, up to now, is the sole one which has risked its all against communism. The magnificence of the courage and fortitude of the Korean people defies description. They have chosen to risk death rather than slavery. Their last words to me were: “Don’t scuttle the Pacific.”

I have just left your fighting sons in Korea. They have met all tests there, and I can report to you without reservation that they are splendid in every way.

It was my constant effort to preserve them and end this savage conflict honorably and with the least loss of time and a minimum sacrifice of life. Its growing bloodshed has caused me the deepest anguish and anxiety. Those gallant men will remain often in my thoughts and in my prayers always.

I am closing my fifty-two years of military service. When I joined the army, even before the turn of the century, it was the fulfillment of all my boyish hopes and dreams.

The world has turned over many times since I took the oath on the plain at West Point, and the hopes and dreams have long since vanished, but I still remember the refrain of one of the most popular barracks ballads of that day which proclaimed most proudly that old soldiers never die; they just fade away.

And like the old soldier of that ballad, I now close my military career and just fade away, an old soldier who tried to do his duty as God gave him the light to see that duty. Good-bye.

http://www.rjgeib.com/thoughts/war/douglas-macarthur-farewell.html

15 Responses

  1. Đoạn mở đầu của bài diễn văn này cho thấy MacArthur có cái tôi rất lớn, rất nguy hiểm khi làm tướng. Và điều đó cũng cho thấy Tổng thống Harry Truman rất sáng suốt khi cách chức MacArthur.

    “Tôi đứng trên bục đài này với một cảm giác vô cùng khiêm nhường và với niềm tự hào to lớn – khiêm nhường dưới bóng những kiến trúc sư vĩ đại trong lịch sử của chúng ta đã đứng đây trước tôi, tự hào trong suy niệm rằng đây là tòa nhà thảo luận lập pháp đại diện cho quyền tự do của loài người trong hình thức tinh khiết nhất đã từng được sáng tạo.

    Đây là nơi hy vọng và ước vọng và đức tin của toàn bộ loài người quy tụ.”

    ” Khiêm nhường dưới bóng những kiến trúc sư vĩ đại trong lịch sử của chúng ta đã đứng đây trước tôi.” Bên trong Quốc hội Mỹ, dưới the dome (tháp cầu), là hình tượng của những vị khai sáng nước Mỹ và các đời tổng thống Mỹ. MacArthur so sánh mình với các vị đó, đang đứng trong hàng của họ. Tiếng Việt dịch là “dưới bóng”, khá khiêm tốn. Nhưng tiếng Mỹ là “in the wake of”, trong làn sóng của, ít khiêm tốn hơn tiếng Việt. (“The wake” là vệt sóng và một con tàu chay nhanh để lại trên mặt biển).

    “Tự hào trong suy niệm rằng đây là tòa nhà thảo luận lập pháp đại diện cho quyền tự do của loài người trong hình thức tinh khiết nhất đã từng được sáng tạo.” Tức là nói rằng, tòa nhà Quốc hội Mỹ là đại diện cho “quyền tự do của loài người trong hình thức tinh khiết nhất đã từng được sáng tạo”. Tức là các nước khác chỉ là số hai.

    “Đây là nơi hy vọng và ước vọng và đức tin của toàn bộ loài người quy tụ.” Câu này thì quá lộ liễu, xin miễn bàn.

    Harry Truman cách chức MacArthur là một hành động rất thông minh.

    Nhưng Harry Truman không chấp nhận lời kêu gọi giúp đỡ giành độc lập của Hồ Chí Minh, và ngược lại, lại giúp đỡ quân Pháp đánh quân Việt, là stupid thuộc loại kỷ lục trong lịch sử thế giới, và đương nhiên là kỷ lục trong lịch sử nước Mỹ.

    Nếu Truman giúp Hồ Chí Minh, trận chiến Mỹ Việt đã không xảy ra, và Mỹ đã không thất trận lần duy nhất trong lịch sử Mỹ, và cuộc chiến Nam Bắc VN có thể đã không xảy ra, và VN đã không phải gánh chịu bao đổ vỡ mà hậu quả còn kéo dài đến ngày nay.

    Một lỗi lầm nhỏ của lãnh đạo có thể có hậu quả cực kỳ lớn cho cả dân tộc, hay vài dân tộc, cả trăm năm.

  2. Cám ơn anh Hoành phần giải thích trên vì không nhờ anh phân tích em đọc cũng không hiểu lắm ý nghĩa thâm sâu về tính cách của tướng MacArthur trong cách nói của ông. (Vậy mà em đang tính gửi email cho anh, xin phép phụ dịch bài, xấu hổ thiệt)
    🙂 Hồng Quyên,

    • Hi Hồng Quyên,

      Dịch là một chuyện, hiểu hết ẩn ý lại là một chuyện khác. Mỗi người hểu một chút, cộng lại thành nhiều.

      Vậy anh sẽ liên lạc với Hồng Quyên về chuyện dịch nhé. Vậy thì Quỳnh Linh, Diệu Sương và Anh Kiệt rất vui. Làm một nhóm trong project này rât vui.

      Cảm ơn em.

  3. Đọc bài này DS không hiểu hết ý, có nhiều đoạn dịch sai, cảm ơn anh Hoành đã sửa bài. Giống như Hồng Quyên, nếu anh không phân tích thì DS không thể nào hiễu nổi những ẩn ý trong bài.

    Cảm ơn Kiệt đã giới thiệu và bình. Kiệt mà làm thầy dạy sử, chắc chắn học trò của Kiệt cũng sẽ đam mê lịch sử giống như thầy mình. ĐCN rất may mắn tìm được Kiệt cho chương trình này. Cảm ơn QL đã giới thiệu🙂

    Hi Hồng Quyên,

    Nếu được Hồng Quyên giúp một tay (hai tay càng tốt :)) thì hay lắm. Rất mong được làm việc chung với HQ.

  4. Em rất đồng ý với anh Hoành. Tướng MacArthur càng về sau càng là 1 người cực kỳ kiêu hãnh, đến sát mức kiêu ngạo. Nhiều lúc không có trên dưới gì. Liên tục từ năm 1939 đến khi bị giải chức, ông nhiều lần tự ý hành động, không theo tổ chức. Và ông rất hay lôi kéo dư luận để chứng minh với thượng cấp là họ sai (em nghĩ giống như tát vào mặt họ)

    Nhưng phải thừa nhận ông là 1 tướng cực kỳ giỏi ở tầm chiến lược (trên sa bàn) em nghĩ là giỏi nhất về mặt này của Hoa Kỳ hiện đại. Ông luôn bố trí các cứ điểm cực kỳ hiệu quả trong phòng thủ.

    Tuy nhiên, ở tầm chiến thuật (hay thực thi cụ thể) thì ông có khá khá thiếu sót. Chẳng hạn lý do ông bị giải chức là cơ quan tình báo/ dọ thám của ông hoạt động kém đến nổi mấy trăm ngàn quân Trung Quốc bí mật dàn trận bên sườn quân Đồng Minh mà ông không hay biết, dẫn đến thảm hoạ “cuộc rút lui dài nhất trong lịch sử quân đội Mỹ”

    Ngay cả chuyện ông yêu cầu tổng thống chuyển giao lại cho ông quyền sử dụng bom nguyên tử, có vẻ cũng là quá đáng.

  5. Tôi rất hứng thú với lời giới thiệu và bình luận của bác Nguyễn Mai Anh Kiêt ở đầu bài viết. Xin phép lạc đề 1 chút sang lịch sử VN từ bài này.

    Cảm ơn tác giả NMAK với cái nhìn phi truyền thống về cuộc chiến tranh VN.
    Theo tôi cảm nhận, về thực chất VN chúng ta là 1 quân cờ trong bàn cờ chiến lược của các cường quốc ở 2 phe XHCN và TBCN sau chiến tranh thế giới thứ 2 giống như bán đảo Triều Tiên vậy. Lịch sử đã nghiệt ngã chọn mảnh đất VN chúng ta làm chiến trường với hàng triệu người đã nằm xuống. Hy vọng chúng ta sẽ không bao giở phải đối mặt với những cuộc nội chiến như thế này 1 lần nữa.

    Cách nhìn nhận này nếu được đánh giá đúng mức thì sẽ là bước tiến lớn để hòa giải dân tộc chúng ta hiện nay.
    Vấn đề này sẽ vẫn mãi dai dẳng nếu chúng ta vẫn nói về miền Nam như những kẻ bán nước và Mỹ cùng Đồng Minh là những kẻ xâm lược theo giáo khoa lịch sử. Tôi không tán thành với rất nhiều ý kiến cho rằng Mỹ muốn biến chúng ta thành 1 nước chư hầu và mất độc lập, tự do. Tôi có lòng tin lớn vào đất nước Mỹ (nhất là so với TQ), vì sao có lẽ bác Hoành là người hiểu rõ nhất.

    • Cảm ơn Lonely Way. Vấn đề các cường quốc muốn dùng ta như các con cờ là chuyện đương nhiên của chính trị kim cổ. Ta xung phong làm những quân cờ, mà là quân cờ rất “chiến”, mới là chuyện đáng nói về trí tuệ VN. Có ai đã từng hỏi tại sao ta cứ lẹt đẹt mãi dưới đáy thế giới để được vinh dự làm quân cờ của người khác trong suốt chiều dài lịch sử ?

      Đã đến lúc chúng ta phải smart emough để hành động ngang hàng với các cường quốc, bằng trí tuệ của mình. Có ai nghĩ đến điều đó không vậy? Hay chỉ là đi theo vết xe xưa?

  6. Em mạn phép nói một ý thôi nha: một con cờ mà nhiều người cùng điều khiển nước đi của nó và không có một đường hướng thống nhất rõ ràng, con cờ đó đi không được xa

  7. Em nghĩ mình không nên nghĩ nhiều về việc ai là quân cờ của ai. Nếu mình theo chính sách Việt Nam luôn mong muốn làm bạn với mọi quốc gia, tận dụng mọi sự giúp đỡ của bạn bè nhưng không dựa dẫm, ỷ lại thì mình chẳng bao giờ quan ngại về việc mình là quân cờ của ai cả. Vì nếu việc là quân cờ của ai đó, trong một lúc nào đó tốt hơn cho mình trong một mục đích nào đó thì bản thân việc “là quân cờ của Mỹ” cũng chính là một nước cờ của mình. Việt Nam là quân cờ của Mỹ hay Mỹ là quân cờ của Việt Nam?😀

    • Hi QL,

      Làm quân cờ của người khác, nói dễ hơn làm. Vì khi làm cờ của người khác, mình thành họ, dù muốn dù không.

      Cho đến ngày nay, vẫn còn một tranh luận lịch sử rất lớn mà chúng ta sẽ không bao giờ có câu trả lời: Là nếu ngày xưa Harry Truman bằng lòng đáp ứng những kêu gọi giúp đỡ của Hồ Chí Minh thì (đương nhiên là không có chiến tranh Mỹ Việt và chắc là cũng không có chiến tranh Nam Bắc của VN), nhưng liệu VN có bị rơi vào chế độ Cộng Sản với những hệ quả chính trị và kinh tế mà chúng ta còn phải chịu cho đến ngày nay không?

      Dù là không có câu trả lời, người Mỹ đồng loạt cho rằng Truman đã làm một lầm lỗi lích sử rất lớn khi không giúp Hồ Chí Minh.

      Tuy nhiên có một câu trả lời rất rõ là: Sự từ chối của Truman đã đẩy HCM và bắc Việt Nam vào vòng lệ thuộc của Trung Quốc và Sô Viết quá sâu, với những hệ quả còn lại cho đến ngày nay mà chính người Việt chúng ta đang cố gắng cởi bỏ cũng vẫn gặp nhiều khó khăn.

      Nước nhỏ rất dễ bị thành quân cờ, trừ khi mình thông minh rất nhiều để biến cái nhỏ của minh thành cái lớn để đứng ngang hàng các đại cường. Không dễ có lãnh đạo đủ sức làm thế.

  8. Cám ơn các anh chị đã tranh luận sôi nổi

    Nhưng đề tài này dính đến chính trị nhiều quá, và trong khuôn khổ bài này em cũng không thể bàn hết được.

    Thật ra sau chiến tranh thế giới thứ 2, hầu hết các nước nhỏ đều thành con cờ hết, có lựa chọn hay không đều vậy. Ví dụ: phe XHCN sáp nhập 11 “con cờ” vào Nga thành nước Liên Xô và gom 1 loạt nước thành S.E.V. khối Tư Bản thì xây dựng căn cứ ở mọi nơi để ngăn chặn. nói chung thành con cờ là bắt buộc, không có lựa chọn nào khác.

    @ bác Lonely way: cái nhìn của em cũng không truyền thống lắm đâu, bây giờ mọi người công khai cách nhìn vấn đề theo kiểu này rồi. Thật ra Mỹ không định dùng VN làm thuộc địa, cũng không định bóc lột khai thác, mà là biến VN thành 1 nước tư bản chủ nghĩa (hay 1 dạng tương tự, để làm 1 phần của “đê chắn làn sóng cộng sản”. Đó là lý do nhân dân miền Nam sống khá thoải mái trong thời kỳ chiến tranh (nhờ viện trợ Mỹ), khác hẳn thời Pháp

    @ anh Hoành:
    về câu “Dù là không có câu trả lời, người Mỹ đồng loạt cho rằng Truman đã làm một lầm lỗi lích sử rất lớn khi không giúp Hồ Chí Minh”

    Vụ này đi sâu quá em không có đủ tài liệu, nhưng theo những gì em có, thì cả Truman và Bác Hồ đều có thiện chí trong chuyện này, thậm chí theo em biết thì có mật đàm giữa 2 phe. Và nếu quan sát kỹ đường lối của Bác Hồ thì sẽ thấy Bác luôn đưa ra đường lối “Độc Lập Dân Tộc” lên hàng đầu (thay vì “Cách Mạng Vô Sản”), chính vì chuyện này Bác bị Liên Xô phản đối (Liên Xô thì mong muốn xây dựng phong trào Vô Sản toàn thế giới, tiêu diệt tư sản), nên mới có chuyện Bác bị triệu về Liên Xô và đưa Trần Phú về thay. Nghĩa là Bác Hồ xem “vô sản” là công cụ chứ không phải mục đích (mục đích là “độc lập dân tộc”), mà đã xem “vô sản” là công cụ thì không xem “tư bản” trên thế giới là đối tượng phải diệt trừ

    Tuy nhiên, em chỉ nêu 1 câu để các bác suy nghĩ: Nếu Truman giúp Bác Hồ, thì Bác Hồ có chịu để Việt Nam đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa vào lúc đó không ? (chắc ai cũng đồng ý là “không” – lý do thì thật dài dòng)

    Mà nếu đã “không”, thì trên bàn cờ xung đột giữa 2 khối trên thế giới, chúng ta bảo Truman nên hành xử thế nào ?

    Vụ này em chỉ dám bàn tới đây thôi.

    • Câu hỏi này của Kiệt rât hay: “Nếu Truman giúp Bác Hồ, thì Bác Hồ có chịu để Việt Nam đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa vào lúc đó không ?” Nó làm sáng vấn đề ra rất nhiều.

      Đương nhiên là vào các thời thập niên 1930s, 40s, 50s chẳng ai có cái đầu và trái tim mà thích tư bản cả. Tư bản ở thê kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là tư bản bóc lột. Chính làn sóng Cộng Sản được sinh ra ở Đức (Karl Marx) và Ấu Châu là phản ứng chống lại các bóc lột đó. Khoảng đầu thế kỷ 20 mới bắt đầu có một chút thay đổi trong bản chất tư bản (với Sherman Act — luật chống độc quyền kinh tế – ở Mỹ 1911, rồi các đạo luật về nghiệp đoàn lao động sau đó…) Nhưng ở Mỹ thì nhiều, Âu Châu vẫn chậm hơn nhiều. Đến thập niên 30s, 40s, 50s tư bản còn đủ danh tiếng xấu trên thế giới (và cộng sản vẫn như là một lý tưởng chống bất công rất đẹp và thực tế). Cho nên Kiệt tự trả lời: “Chắc ai cũng đồng ý là ‘không’ – lý do thì thật dài dòng” là rất hay.

      Và nếu như vậy thì câu hỏi kế tiếp của Kiệt đã tự trả lời: “Mà nếu đã “không”, thì trên bàn cờ xung đột giữa 2 khối trên thế giới, chúng ta bảo Truman nên hành xử thế nào ?”

      • Mình vừa “đụng” trang web này có “Collection of Letters by Ho Chi Minh” gồm các lá thơ Cụ Hồ viết cho giới chức Mỹ, kể cả lá thư cho Harry Truman mà Truman đã không trả lời, và Tuyên Ngôn Độc Lập VN (có nhắc đến Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ).

        http://rationalrevolution.net/war/collection_of_letters_by_ho_chi_.htm

        Letter to Secretary of State Robert Lansing in Paris, June 18, 1919

        We take the liberty of setting fourth the claims of the Annamite people on the occasion of the Allied victory. We count on your great kindness to honor our appeal by your support… Since the victory of the Allies, all subject peoples are frantic with hope at the prospect of an era of right and justice which should begin for them… in the struggle of civilization against barbarism.

        In France, December 26, 1920

        You all have known that French imperialism entered Indochina half a century ago. In its selfish interests, it conquered our country with bayonets. Since then we have not only been oppressed and exploited shamelessly, but also tortured and poisoned pitilessly. Plainly speaking, we have been poisoned with opium, alcohol, etc. I cannot, in some minutes, reveal all the atrocities inflicted on Indochina. Prisons outnumber schools and are always overcrowded with detainees. Natives are arrested and sometimes murdered without trial. Vietnamese are discriminated against. We have neither freedom of press nor freedom of speech. Even freedom of assembly and freedom of association do not exist. We have no right to live in other countries or to go abroad as tourists. We are forced to live in utter ignorance and obscurity because we have no right to study. In Indochina the colonialists find all ways and means to force us to smoke opium and drink alcohol to poison and beset us. Thousands of Vietnamese have been led to a slow death or massacred to protect other people’s interests. Such is the treatment inflicted upon more that 20 million Vietnamese, that is more then half the population of France. And they are said to be under French protection!

        Letter to President Harry Truman, February 16, 1945. The letter was never answered and was not declassified until 1972

        DEAR MR. PRESIDENT:

        Our VIETNAM people, as early as 1941, stood by the Allies’ side and fought against the Japanese and their associates, the French colonialists.

        From 1941 to 1945 we fought bitterly, sustained by the patriotism, of our fellow-countrymen and by the promises made by the Allies at YALTA, SAN FRANCISCO and POTSDAM.

        When the Japanese were defeated in August 1945, the whole Vietnam territory was united under a Provisional Republican Government, which immediately set out to work. In five months, peace and order were restored, a democratic republic was established on legal bases, and adequate help was given to the Allies in the carrying out of their disarmament mission.

        But the French Colonialists, who betrayed in wartime both the Allies and the Vietnamese, have come back, and are waging on us a murderous and pitiless war in order reestablish their domination. Their invasion has extended to South Vietnam and is menacing us in North Vietnam. It would take volumes to give even an abbreviated report of the crisis and assassinations they are committing everyday in this fighting area.

        This aggression is contrary to all principles of international law and the pledge made by the Allies during World War II. It is a challenge to the noble attitude shown before, during, and after the war by the United States Government and People. It violently contrasts with the firm stand you have taken in your twelve point declaration, and with the idealistic loftiness and generosity expressed by your delegates to the United Nations Assembly, MM. BYRNES, STETTINIUS, AND J.F. DULLES.

        The French aggression on a peace-loving people is a direct menace to world security. It implies the complicity, or at least the connivance of the Great Democracies. The United Nations ought to keep their words. They ought to interfere to stop this unjust war, and to show that they mean to carry out in peacetime the principles for which they fought in wartime.

        Our Vietnamese people, after so many years of spoliation and devastation, is just beginning its building-up work. It needs security and freedom, first to achieve internal prosperity and welfare, and later to bring its small contribution to world-reconstruction.

        These security and freedom can only be guaranteed by our independence from any colonial power, and our free cooperation with all other powers. It is with this firm conviction that we request of the United Sates as guardians and champions of World Justice to take a decisive step in support of our independence.

        What we ask has been graciously granted to the Philippines. Like the Philippines our goal is full independence and full cooperation with the UNITED STATES. We will do our best to make this independence and cooperation profitable to the whole world.

        I am Dear Mr. PRESIDENT,

        Respectfully Yours,

        (Signed) Ho Chi Minh

        Letter to Secretary of State James Byrnes, November 1, 1945

        [Could I Send] to the United States of America a delegation of about 50 Vietnam youths with a view to establish friendly cultural relations with American youth on the one hand, and carrying on further studies in Engineering, Agriculture, as well as other lines of specialization on the other. They have been all these years keenly interested in things American and earnestly desirous to get in touch with American people whose fine stand for the noble ideals of international Justice and Humanity, and whose modern technical achievements have so strongly appealed to them.

        Vietnamese Declaration of Independance, September 2, 1945

        “All men are created equal; they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights; among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness.”

        This immortal statement was made in the Declaration of Independence of the United States of America in 1776. In a broader sense, this means: All the peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right to live, to be happy and free.

        The Declaration of The French Revolution made in 1791 on the Rights of Man and the Citizen also states: “All men are born free and with equal rights, and must always remain free and have equal rights.”

        Those are undeniable truths.

        Nevertheless, for more than eighty years, the French imperialists, abusing the standard of Liberty, Equality, and Fraternity, have violated our Fatherland and oppressed our fellow citizens. The have acted contrary to the ideals of humanity and justice.

        In the field of politics, they have deprived our people of every democratic liberty.

        They have enforced inhuman laws; they have set up three distinct political regimes in the North, the Center, and the South of Viet-Nam in order to wreck our national unity and prevent our people from being united.

        They have built more prisons than schools. They have mercilessly slain our patriots; they have drowned our uprisings in rivers of blood.

        They have fettered public opinion; they have practiced obscurantism against our people.

        To weaken our race they have forced us to use opium and alcohol.

        In the field of economics, they have fleeced us to the backbone, impoverished our people and devastated our land.

        They have robbed us of our rice fields, our mines, our forests, our raw materials. They have monopolized the issuing of bank notes and the export trade.

        They have invented numerous unjustifiable taxes and reduced people, especially our peasantry, to a state of extreme poverty.

        They have hampered the prospering of our national bourgeoisie, they have mercilessly exploited our workers.

        In the autumn of 1940, when the Japanese fascists violated Indochina’s territory to establish new bases in their fight against the Allies, the French imperialists went down on their bended knees and handed over our country to them.

        Thus, from that date, our people were subjected to the double yoke of the French and the Japanese. Their sufferings and miseries increased. The result was that, from the end of last year to the beginning of this year, from Quang Tri Province to the North of Viet-Nam, more than two million of our fellow citizens died from starvation. 9 March 1945, the French troops were disarmed by the Japanese. The French colonialists either fled or surrendered, showing that not only were they incapable of “protecting” us, but that, in the span five years, they had twice sold our country to the Japanese.

        On several occasions before 9 March, the Viet Minh League urged the French to ally themselves with it against the Japanese. Instead of agreeing to this proposal, the French colonialists so intensified their terrorist activities against the Viet Minh members that before fleeing they massacred a great number of our political prisoners detained at Yen Bay and Cao Bang.

        Notwithstanding all this, our fellow citizens have always manifested toward the French a tolerant and humane attitude. Even after the Japanese Putsch of March, 1945, the Viet Minh League helped many Frenchmen to cross the frontier, rescued some of them from Japanese jails, and protected French lives and property.

        From the autumn of 1940, our country had in fact ceased to be a French colony and had become a Japanese possession.

        After the Japanese had surrendered to the Allies, our whole people rose to regain our national sovereignty and to found the Democratic Republic of Viet-Nam.

        The truth is that we have wrested our independence from the Japanese and not from the French.

        The French have fled, the Japanese have capitulated, Emperor Bao Dai has abdicated. Our people have broken the chains which for nearly a century have fettered them and have won independence for the Fatherland. Our people at the same time have overthrown the monarchic regime that has reigned supreme for dozens of centuries. In its place has been established the present Democratic Republic.

        For these reasons, we, members of the Provisional Government, representing the whole Vietnamese people, declare that from now on we break off all relations of a colonial character with France; we repeal all the international obligation that France has so far subscribed to on behalf of Viet-Nam, and we abolish all the special rights the French have unlawfully acquired in our Fatherland.

        The whole Vietnamese people, animated by a common purpose, are determined to fight to the bitter end against any attempt by the French colonialists to reconquer their country.

        We are convinced that the Allied nations, which at Teheran and San Francisco have acknowledged the principles of self-determination and equality of nations, will not refuse to acknowledge the independence of Viet-Nam.

        A people who have courageously opposed French domination for more than eighty years, a people who have fought side by side with the Allies against the fascists during these last years, such a people must be free and independent.

        For these reasons, we, members of the Provisional Government of the Democratic Republic of Viet-Nam, solemnly declare to the world that Viet-Nam has the right to be a free and independent country and in fact it is so already. The entire Vietnamese people are determined to mobilize all their physical and mental strength, to sacrifice their lives and property in order to safeguard their independence and liberty

        Ho Chi Minh quoted by Rene J. Defourneaux, August 9, 1966

        I have always been impressed with your country’s treatment of the Philippines. You kicked the Spanish out and let the Filipinos develop their own country. You were not looking for real estate, and I admire you for that. I have a government that is organized and ready to go. Your statesmen make eloquent speeches about helping those with self-determination. We are self-determined. Why not help us? Am I any different from Nehru, Quezon- even your own George Washington? I, too, want to set my people free.

  9. Theo tôi nghĩ, chính xác hơn thì không hẳn VN chúng ta là quân cờ cho các cường quốc điều khiển và lợi dụng mà chúng ta là 1 phần của chiến lược, bản thân các cường quốc cũng là những quân cờ. Họ có thể là Hậu là Xe, chúng ta có thể là 1 chiến Mã hay Tốt tiên phong gì đó. Trong hoàn cảnh lúc đó, chúng ta là 1 phần trong vận động lịch sử của thế giới cũng là dễ hiểu.

    @bác Kiệt:
    Không rõ bác ở nơi nào nhưng mọi người ở chỗ tôi ngay cả bố mẹ tôi (miền Bắc) thì cái nhìn phi truyền thống này bị quy chụp ngay lập tức là “thằng bán nước” (bất trung, bất hiếu ư?).

    @bác Hoành:
    Ban đầu tôi cũng có trăn trở với nhận định của bác về sai lầm của Truman , nhưng suy ngẫm kỹ lại thì bây giờ tôi rất đồng tình. Không có sai lầm đó sẽ không có chiến tranh VN và có thể hiện nay người dân VN chúng ta sẽ không có nhiều hoài nghi và thận trọng với người Mỹ như thế này. Và chúng ta có lẽ sẽ không sát gần với TQ như bây giờ.

    Tránh được chiến tranh là hay nhất cho dù chúng ta theo phe XHCN hay TBCN. Ở đây thật khó để nói bên nào là con đường đúng, nhất là trong hoàn cảnh lúc đó. Theo tôi nghĩ, trong tiến trình lịch sử, chúng ta có thể có quyền có quyết định sai lầm nhưng chỉ cần con người có TỰ DO, xã hội sẽ tự vận động, điều chỉnh tiệm cận đến quỹ đạo đúng của con người. Sai lầm trong 1 giai đoạn nào đó không phải quá khủng khiếp, điều then chốt nhất là có 1 cơ chế ở đó chúng ta có thể nhận ra sai lầm và sửa chữa nó. Cơ chế đó luôn nằm ở nhân dân và phải luôn tồn tại trong bất kỳ hình thái xã hội nào.

    Rất hạnh phúc khi được học lịch sử đích thực như thế này trên ĐCN. Đây là bài học lịch sử hấp dẫn nhất từ trước tới nay đối với tôi.

  10. Có phải từ khi “Bác bị triệu về Liên Xô và đưa Trần Phú về thay”, Bác Hồ trở thành một biểu tượng cho lý tưởng và tình yêu để quy tụ lòng nhân dân miền Bắc hơn là người thực sự nắm quyền lực và lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân miền Bắc?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: