Nhìn lại "Hiện tượng Lý Phương Liên" của 40 năm trước


 (Nhân Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII)

 

Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người

Chọn số phận ở thời mình đang sống…

                                               Lý Phương Liên

Tôi sẽ không gọi Lý Phương Liên là nhà thơ – mặc dù chị xứng đáng và cần được gọi như vậy, nhất là khi danh xưng “nhà thơ” đang bị lạm dụng. Tôi cũng sẽ không dám nói nhiều tới nội dung – nghệ thuật những sáng tác thơ ca của chị, vì “Sau biết bao chìm nổi, nương dìu nhau mà sống, 40 năm sau, tập thơ “Ca bình minh” của Lý Phương Liên và tập “Thơ Nguyễn Nguyên Bảy” ra mắt bạn đọc” (Thanh niên Oline), đã có nhiều người viết làm công việc đó một cách công tâm, sòng phẳng. Với tư cách là một người yêu thơ, và là một người bạn vong niên rất lâu của chị, nhân Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII đang diễn ra, tôi chỉ muốn nhìn lại đôi chút về “Hiện tượng Lý Phương Liên” sau một quãng thời gian đủ hình thành dăm bảy thế hệ người viết…

Vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước, khi những bài thơ của cô thợ máy Lý Phương Liên xuất hiện đã gây ra những “cơn sốt” trong dư luận. Hồi đó, những người ở lứa tuổi đôi mươi hình như cùng sống trong một “bầu khí quyển” tinh thần đặc biệt của xã hội, đều có thể rung động trước những câu thơ “chói ngời sắc đỏ” của Nguyễn Mỹ hoặc “nhuộm mầu thu vui” xanh rượi tình yêu thương của Lý Phương Liên – nói chung là chúng chẳng khác nhau là mấy, hoặc chỉ là những biểu hiện khác nhau của một tâm trạng chung: cùng một niềm tin yêu rộng mở, cùng một suy nghĩ nghiêm trang, cùng một niềm đắm say ngây ngất trong một hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi phải dâng hiến tất cả cho Tổ quốc và Dân tộc đang đứng trước thử thách hiểm nghèo… Chị không phải là một nhà thơ theo nghĩa thông thường. Có thể nói chị là một hiện tượng văn chương, hơn thế,  một hiện tượng tâm lý xã hội, một ánh xạ của tinh thần thời đại, một tiếng vọng chân thực của tinh thần đông đảo lớp trẻ hồn nhiên, hăng hái, say đắm lý tưởng. Cứ mỗi lần đọc lại thơ Lý Phương Liên, những ai có chút tâm hồn lãng mạn thời ấy ( mà ta quen dùng đến nhàm và có phần thái quá là “lãng mạn cách mạng”) đều có thể cảm nhận được cái men sống kỳ lạ ; không ít người đã nâng niu chút men ấy, cái hương vị ấy của tình người để mà sống qua những chặng đời gian nan – dù ở khói lửa chiến trường hay trong chốn sương mù tịch mịch, tất cả đều gìn giữ cái “màu hoa chuối đỏ tươi” (Nguyễn Mỹ) và những “đêm hè trời đầy sao hoa” tận đáy hồn…

Thơ Lý Phương Liên kể về ngôi nhà của chị giống như một “Cái lò tổ ấm năm chị em”, về bảy gia đình trong “Xóm nhỏ”, về “Chị hàng xóm làm nghề tráng bánh đa nem”, về một lần “Chờ anh dưới cột đồng hồ”, về chuyện “Thắp hương”, về Hà Nội “Sau cơn mưa”, v.v. Tất cả đều giản dị, với “tính chân thực của ngôn ngữ”- song điều quan trọng hơn cả là chúng đã vươn tới “tính chân thực của thông báo” trong “quá trình tìm kiếm chân lý của nghệ thuật” – như nhà lý luận văn học Nga kiệt xuất Iuri Lotman từng đòi hỏi.(1) Cũng chính “tính chân thực của thông báo” đó cùng dấu ấn tâm hồn riêng biệt của Lý Phương Liên đã là cái giúp cho thơ chị vượt thời gian.

Lý Phương Liên hồn hậu làm thơ, như đã hồn hậu sống, hồn hậu tin tưởng, hồn hậu vượt lên trên mọi bất hạnh của số phận rơi xuống gia đình nhỏ bé của chị mà chị đã tình nguyện gắn nó vào số phận chung của cả dân tộc một cách đầy ý thức. Chị hồn nhiên kể hết những khổ nghèo, thiếu thốn, đắng cay, không hề thi vị hóa chúng. Ai cũng có thể soi mình trong đó, để tìm sự an ủi, sự cảm thông, một chỗ vịn tinh thần tình cảm để cùng vượt qua bao nỗi cam go:

Cái nghèo chẳng dễ hiểu đâu

Xa sâu như tiếng đàn bầu trong khuya

Linh thiêng lời mẹ dăn dò

Kiếp người là một gánh lo hãi hùng…

Điều gì đã cho chị thổi được vào sự sống cái tình yêu run rẩy với những hình ảnh đơn sơ, quen thuộc thế này:

Từ vị ngọt của lúa thơm

Từ hương mát của hoa trái

Từ sức gió chạy trên đồng hoang dại

Từ bong bóng mưa tháng năm…

…Chân mang gió qua núi

Cánh cò cô đơn, cánh cò lặn lội

Góa chồng nuôi con

Câu ca dao xôn xao trời đêm

Và tiếng hát

Xôn xao những cánh đời đói khát

Chị giải thích đó là do “Cội nguồn”- như tên của bài thơ, và đó cũng là cội nguồn sâu xa của một vệt Thơ chắt ra từ suy nghĩ xoáy lòng, từ dự cảm trước những điều bất công ngang trái, từ tinh thần dũng cảm sống không đầu hàng số phận của “tuổi hai mươi không tin vào định mệnh”, đồng thời không lúc nào rời xa yêu thương hồn hậu:

Không có con đường nào toàn bóng mát và hoa

Không có vùng trời nào toàn chim hót

Không có cây khế vàng trong cổ tích

Kho báu cũng không, dù có mật khẩu vừng…

Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng

Chôn mẹ, nuôi đàn em thơ dại

An phận ư? Mơ hồ sợ hãi

Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng…

Thế là đã rõ: có tin yêu hồn hậu thì mới có tâm trạng ngơ ngác, sự thất vọng chua xót, nỗi đau đớn tận cùng, rồi từ đó mới có lòng dũng cảm để sống, để vượt lên mọi thử thách và để khẳng định bằng câu hỏi: “Có gì đẹp hơn tình yêu không anh?” Nhưng cũng chính từ tận đáy của niềm tin yêu trong trẻo, Lý Phương Liên đã có những suy ngẫm đích thực và xoáy sâu về thân phận con người, về trách nhiệm sống thực sự của con người trong cộng đồng xã hội, khi màSố phận mình là số phận của nhân dân”. Và đó cũng là một nội dung tư tưởng quan trọng trong bài thơ dài “Nghĩ về Thúy Kiều”- khi in sách đổi thành “Trò chuyện với Thúy Kiều” mà nhà văn Triệu Xuân cho rằng “là một trong những bài thơ hay nhất của cuộc đời thơ Lý Phương Liên, nó là “đỉnh” của chị.”( trieuxuan.info). Những người nỡ “đánh” tàn tệ bài thơ “Nghĩ về Thúy Kiều” lúc ấy đâu có hiểu rằng: “đánh” nó tức là cũng vô tình “đánh” vào sự hồn hậu đáng yêu kia. Nàng Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng hồn hậu tin đời, tin người đấy thôi, và nếu có lúc nào đấy nàng nhận ra sự bội phản, hiểu rõ sự bất trắc thì cũng chủ yếu là do tình yêu thương hồn hậu tận trong bản năng mách bảo. Lý Phương Liên, một cô gái 20 tuổi đã đồng cảm với nàng Kiều, và đã cố gắng thâm nhập vào chiều sâu trái tim người nghệ sĩ vĩ đại – nơi đã tìm ra những bí mật khuất lấp, những thế lực đen tối giật giây số phận con người vô tội. Trong “dàn đồng ca quan họ” văn chương (chữ của Nguyễn Nguyên Bảy) lúc đó, tiếng thơ của Lý Phương Liên vút lên trở thành một trong những giọng ca chủ đạo, trở thành một trong những “liền chị” có uy tín nhất, được nhiều người quý mến hơn cả, bởi hơn ai hết, chị đã nói ra được cái không khí tinh thần chung, lý giải cái điều mà nhà thơ Hoàng Xuân Họa đã chân thành kể lại: “… thơ chị đã làm rung động cảm xúc mấy thế hệ bạn đọc ngày ấy. Những người hôm nay tuổi từ 60 – 80 từng là nhà giáo, sinh viên, bộ đội, công nhân thời đó hầu như đều đọc, thuộc bài Ca Bình Minh, Lời Ru Với Anh, Ngã Ba… trong lúc cuộc sống thời chiến chẳng dư dả gì, lấy thơ nâng đỡ tinh thần để làm việc và chiến đấu… Từ chiến trường trở về tôi vẫn giữ được cuốn sổ có chép ba bài thơ: Lời Ru Với Anh, Ca Bình Minh và Em Mơ Có Một Phiên Tòa chép trên báo Nhân dân trước đó mấy năm, đem đi hỏi bạn bè về tác giả Lý Phương Liên, thấy ai cũng nhìn trước nhìn sau im lặng tảng lờ chẳng dám nhận mình đã đọc thơ Lý Phương Liên, mặc dầu họ đều là những người làm nghề chữ nghĩa, viết lách, thèm thơ như thèm lĩnh tiền nhuận bút, cuốn sổ gạo, ô phiếu thịt!”(vandanviet.net) Vậy mà thơ Lý Phương Liên đã không hề có “những trận bạo động chữ” nào – theo cách nói của nhà văn Văn Giá (phongdiep.net), cũng không hề có cái chuyện thường ngày bây giờ của một số người viết trẻ là “nặng tiếp thị, “nổ”, PR quá đà thành gian dối gây thất vọng.”(Vi Thùy Linh- trannhuong.com). Thơ Lý Phương Liên có thể là một minh chứng sáng rõ nhất cho cái đòi hỏi này của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên: “Văn học nói chung, văn học trẻ nói riêng, không thể là một thứ viễn mơ, xa rời và thờ ơ với số phận nhân dân, dân tộc” (phongdiep.net)

Để có thể khẳng định thêm về ảnh hưởng của “hiện tượng Lý Phương Liên” đối với đời sống xã hội nói chung, đời sống văn học nói riêng, tôi cho rằng cần nhắc đến một luận điểm trong tiểu luận đặc sắc:” Quan niệm về thơ ca trong thơ Pushkin” của triết gia Nga Vladimir Soloviev mà những người viết trẻ hôm nay cũng có thể rút ra được những điều quý giá cho bản thân: “Thơ ca có thể và phải phục vụ cho cơ đồ của cái chân và cái thiện trên thế gian – nhưng chỉ bằng phương cách của mình, chỉ bằng vẻ đẹp của mình và không bằng một cái gì khác… Tất cả những gì có chất thơ – có nghĩa là tất cả những gì đẹp – sẽ bằng cách ấy dồi dào nội dung và hữu ích theo nghĩa tốt nhất của từ ấy”. (2) Và cũng chính V. Soloviev đã viết về tình yêu dân tộc và đất nước trong tác phẩm của thi hào Ba Lan A. Mickiewicz như một lời kêu gọi thấm thía đối với mỗi người cầm bút Việt Nam hiện tại: “Cả ở đây trong sức mạnh đặc biệt của tình cảm có sự dự liệu một chân lý vĩ đại, nó nói rằng dân tộc cũng như ngã thể con người có sứ mệnh vĩnh hằng và tuyệt đối, và phải trở thành một trong những hình thức trường cửu, có giá trị tự thân và không thể thay thế… cần làm sao cho thể trần thuật của tình cảm ái quốc: “tôi yêu nước” chuyển thành thể mệnh lệnh: “hãy giúp đất nước ý thức được và thực hiện được nhiệm vụ cao nhất của nó”… (3)

_________________________

1. Cấu trúc văn bản nghệ thuật – Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2004, tr.38.

2,3. Siêu lý tình yêu. Những tác phẩm triết- mỹ chọn lọc, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Văn hóa Thông tin & TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội- 2005, tr.854, tr.906

Hà Nội, 9/9/2011
Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn


Xin trích kèm theo một vài bài thơ tiêu biểu của Lý Phương Liên

CA BÌNH MINH

Em đi làm ca ba

Đêm buồng đầy đường phố

Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ

Em đi giữa lòng đường

Hát khẽ…


Bạn bè em có nhiều ý lạ

Khi nói tới ca ba

Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa

Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa

Còn em với niềm vui bé nhỏ

Em gọi ca ba là ca bình minh


Ý nghĩ ấy gặp em như một sự vô tình

Đêm ca ba đi dọc đường Nam Bộ

Tay vẫy chào những đoàn tầu rời ga Hàng Cỏ

Đưa bộ đội lên đường

Các anh đi suốt ca ba thẳng tới chiến trường

Đón bình minh Đất Nước

Và một đêm ca ba hôm trước

Chị hàng xóm nhà em trở dạ đầu lòng

Em dìu chị đến nhà hộ sinh

Sáng hôm sau gió cao trời xanh

Chị hàng xóm đón em tiếng oa oa con khóc

 

Ai cũng muốn mỗi ngày đời là một ngày sống đẹp

Đêm thao thức cho ngày

Ơi ca ba! Ca ba em đi vào hôm nay

Đã thấy bình minh trước mặt


 LỜI RU VỚI ANH

Chim bằng ngoan của em ơi

Đêm nay ngon ngủ sáng mai lên đường

Em ngôi nhìn ngắm yêu thương

Cho no mắt nhớ ngày thường chim bay

Em muốn anh như bàn tay

Xòe ra là gặp

Chim bằng trời biếc

Chim bằng con trai

Ngủ ngoan anh nhé sáng mai lên đường

Ở nhà bên cạnh người thương

Để chim nghỉ cánh dặm trường đời xa

Lồng son phòng hẹp đôi ta

Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào

Xa anh nói nhớ làm sao

Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành

Lẽ nào em buộc cánh anh

Buộc cánh anh

Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu

Trời lộng chim reo

Mắt em mai sớm dõi theo chim bằng

Nỗi nhớ trong lòng

Cho chim cánh gió

Cho ngày nắng nỏ

 Chim bay

Ngủ ngoan anh nhé đêm nay

Để mai xa suốt tháng ngày có em…



TỪ LỜI RU CỦA MẸ

Có lẽ nào những lời ru của mẹ

Hóa những lời tiên tri

Cò cha cò mẹ bay đi

Cò con côi cút lấy gì nuôi nhau…


Mới tám tuổi đầu

Cha mất

Mẹ lặn lội thân cò bến chợ bến sông

Em còn vừa mới lọt lòng

Con đưa nôi em ngủ

Con cò bay la con cò bay lả

Chúng con ngủ lúc nào trong tiếng mẹ ru đêm

Tiếng ru như có con thuyền

Ra sông Vào biển

Nào ngờ thuyền chúng con bị cuốn vào bão lớn

Năm chị em ôm nhau

Mẹ mất

Lời tiên tri đúng thật

Con là cây buồm mười tám tuổi chổng chiêng


Những lúc chợt rùng mình kinh sợ

Con lại nghe tiếng mẹ ru hời

Cánh cò trắng muốt như soi

Lời ru đi suốt cuộc đời chúng con

Áo rách giữ thơm

Đói lòng ăn sạch

Cánh cò trắng không mầu gì nhuộm được

Con mở buồm đón gió mà đi…

TRÒ CHUYỆN VỚI THÚY KIỀU

 Hai trăm năm và chảy dài vô hạn

Thúy Kiều ơi, nàng sống tháng năm dài

 

Trái đất chúng mình cho đến hôm nay

Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi

Thời gian còn nửa ngày là đêm tối

Còn đồng tiền đổi trắng thay đen

Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen

Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến

Còn những đất đai triền miên chinh chiến

Thúy Kiều ơi, nàng sống tháng năm dài…

 

Bốn tiếng đàn lắng thấm vào tâm tưởng

Ôi con người có dễ gì tưởng tượng

Con người khốn khổ thế này chăng?

 

Thúy Kiều ơi, Thúy Kiều ơi

Bao giờ người mới thoát đời lênh đênh?

Thời gian đọng lại buồn tênh

Mỗi trang Kiều một mông mênh cõi người…

 2

Mẹ em bảo

“Có một đấng thiêng đứng trên đầu trái đất

Đôi mắt nhìn khắp cả xa sau…”

Mẹ em tin như thế từ lâu

Và cầu mong số phận đừng phụ bạc

Niềm tin ấy chẳng bao giờ đổi khác

Chết chồng lủi thủi nuôi con

Mẹ không thể làm gì cho đời mẹ vui hơn

Số phận buộc mẹ vào cơ cực

Những lúc mẹ thầm thào với con về hạnh phúc

Cũng là khi lòng mẹ nguyện cầu

Ai đưa mẹ tới mai sau

Thiên đường của một hành tinh khác

Con kinh hoàng nhận nỗi đau mẹ chết

Cuộc đời này có số phận thật chăng?

Có đấng nào mách bảo mẹ đâu

Đời con còn đó mai sau

Sống là điều mẹ nguyện cầu cho con

Cửa nào cũng khóa chốt, cài then

Hỡi oan hồn định mệnh Đạm Tiên

Hỡi réo rắt tiếng đàn Kiều trầm bổng

Xin đừng dọa người yêu cuộc sống

Em bước lên gõ cửa cuộc đời

Đời của tôi ơi

Em mở vòng tay đón

Hỡi trời cao đất rộng

Đời bao nhiêu sắc mầu, bao cung bậc âm thanh

Sắc mầu nào chẳng vẽ nên tranh

Cung bực nào chẳng thành thơ, thành nhạc

Đại dương nào ẩn trong màu nước biếc

Chẳng sóng ngầm, mắt bão với phong ba

Không có con đường nào toàn bóng mát và hoa

Không có vùng trời nào toàn chim hót

Không có cây khế vàng trong cổ tích

Kho báu cũng không, dù có mật khẩu vừng…

Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng

Chôn mẹ, nuôi đàn em thơ dại

An phận ư? Mơ hồ sợ hãi

Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng…

 Trên chết chóc muốn dập vùi

Trên đau thương mới là người, người ơi…

Tôi tuổi hai mươi, không nơi nào có được

Tôi sinh ra giữa cơn lốc xoáy tròn đất nước

Vai gánh nặng cuộc chiến tranh hủy diệt

Mỗi người dân đều nhận phần mất mát

Chia đều nhau bom đạn với cơm ăn

…Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người

Chọn số phận ở thời mình đang sống…

 

Định mệnh đây, chúng tôi bay qua lửa

Cứu sống Kiều từng trang

 Hai vai tôi kéo lặc lè đồ đạc nặng

Cũng như nàng, có thể nặng hơn

Có khác chăng, nàng chẳng một đoái thương

Xe đồ tôi ai qua đường cũng đẩy

Những mái tóc bạc phơ hay đỏ cháy

 

Những nét cười duyên dáng cũng xăn tay

Ai cũng nhận xe đồ tôi chở nặng hôm nay

Là chính xe đồ mình chở nặng

Xung quanh tôi không một ngày buồn vắng

Không một đêm cay đắng tủi hờn

Không một ai có thể giầu hơn

Không ruột thịt mà đầy nhà ruột thịt

Không họ hàng mà xum vầy thân thiết

Không mẹ cha mà đầy đủ mẹ cha

Tôi vượt lên mình thực chẳng êm ru

Nhưng đứng lại thì chưa ngày tôi nghỉ

Thúy Kiều ơi, như người sang sông

Tôi đưa đò cập bến

Năm chị em côi nghỉ dăm ngày trên bến

Sắp đến đoạn đường ra biển dài lâu

Cuộc đời mình chưa lặng gió được đâu

 

Số phận mình là số phận của nhân dân

Soi gương đời nhìn thấy hết gian truân

 

Thấy hết gian truân để mà cười, mà sống…

Đường ra biển có thể dài năm tháng

Mất mát nhiều hơn, gian khổ cũng nhiều hơn

Nhưng một điều chắc chắn phi thường

Chúng tôi sẽ lên bờ vào một ngày nắng đẹp…

 

Thúy Kiều ơi, tôi nghe rõ tiếng đàn

Nàng đang gẩy khúc nào mà bổng trầm réo rắt

Tiếng gõ cửa cuộc đời ngày thêm dồn, thêm gấp

Lắng nghe, lắng nghe… chính tiếng đập tay người

Chúng ta mở cửa cuộc đời

Và cầm lái con thuyền nhân định

Giữa biển lớn thuyền chúng ta lướt đến

Sáng toàn thân ánh sáng của con người!

( Rút từ tập “Ca bình minh”- Nxb văn học, 2011)

8 Responses

  1. Cảm ơn Anh Tuấn.

    Lần đầu tiên anh Vân Hạc giới thiệu thơ chị Lý Phương Liên trên ĐCN, mình đã phản ứng như thế này trong phản hồi:

    Lần đầu đọc thơ chị Lý Phương Liên do anh Vân Hạc giới thiệu trên ĐCN mình rất ngạc nhiên vì “Tại sao thơ hay thế này mà xưa nay mình không biết nhỉ ?”. Đó là những lời thơ thật thà, giản dị, và sâu sắc, đến trực tiếp từ trái tim, không trau chuốt, không gò bó trong quy luật âm vận cổ điển, nhưng vẫn có âm điệu mượt mà tự nhiên của ngôn ngữ Việt, không cliché, không “ngôn ngữ thi ca” tiếp thị, diễn tả những cảm tình rất thật của một con người, viết 40 năm trước mà nghe vẫn sáng và mới như là mới viết hôm qua.

    Very interesting!

    Sau đó mới biết là ở miền Bắc mà lại quy ẩn 40 năm thì làm sao mà mình biết được.

    Rất là interesting. Dù là thơ viết 40 năm trước, trong bối cảnh chiến tranh, đọc lại 40 năm sau, trong bối cảnh hòa bình, cũng vẫn thấy hoàn toàn mới.

  2. Em đọc xong bài thơ này có câu

    “…. Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người

    Chọn số phận ở thời mình đang sống…”

    Sao bỗng dưng em lại cứ nhớ “Nói với tuổi hai mươi” của thầy Thích Nhất Hạnh thế. Hình như ở thời đại nào cũng vậy, cũng có những biến cố, có trầm luân, có rất nhiều khó khăn và biến động. Thanh niên ở mỗi thời cũng đều đặt câu hỏi giống nhau mà không biết: tôi là ai ? tôi nên sống thế nào? tôi sống để làm gì? tôi làm được gì cho chính cuộc đời tôi và cho xã hội này? v.v…

    Mà tất cả những câu hỏi ấy đều được Phật trả lời cả nghìn năm trước. Vậy mà cho đến hôm nay em vẫn chưa thấy mình hiểu hết và vẫn lóng ngóng vụng về thực hành những điều Phật dạy.

    Nhưng có lẽ, cho đến bây giờ thì câu hỏi của em đơn giản hơn rồi: Làm thế nào trong từng giây sát na, mình hạnh phúc?🙂

    Em sorry nếu tự nhiên cảm xúc của em khi đọc xong bài anh Tuấn post rất là offline và lạc chủ đề ạ😀

  3. Sao lại “lạc chủ đề” ? Khi bạn viết:”Thanh niên ở mỗi thời cũng đều đặt câu hỏi giống nhau mà không biết: tôi là ai ? tôi nên sống thế nào? tôi sống để làm gì? tôi làm được gì cho chính cuộc đời tôi và cho xã hội này? v.v”, tức là bạn đang đứng ở góc độ triết học sâu xa để nhìn nhận vấn đề, và có cảm xúc rất mạnh về nó- cái điều hiện nay đang rất thiếu ở thanh niên- kể cả ở trong không ít người cầm bút trẻ (và có lẽ đây cũng là một trong những lý do để bài viết nhỏ này ra đời) Cảm ơn bạn

  4. Cô Lý Phương Liên viết bài này cách đây 40 năm, lúc ấy chắc cô cũng đang ở tuổi em hoặc lớn hơn một tí. Nhưng sao các cô chú, anh chị ngày xưa chững chạc hơn lứa tuổi bây giờ quá a, em không hiểu vì thời thế xã hội hay là gì mà làm con người ta sâu hơn, nhìn đời rõ ràng hơn như vậy a? Tuổi trẻ bây giờ, nhưng người cùng lứa hoặc lớn hơn em một chút, không dễ tìm được nhiều người có suy nghĩ sâu và lặng như các cô chú, anh chị ngày xưa ở độ tuổi như chúng em quá..

    • Hi Ngọc Vũ,

      Đương nhiên là trong chiến tranh, đối diện với cái chết và hủy diệt hàng ngày, người ta trưởng thành và già dặn hơn người sống trong hòa bình đến 10 lần. Có gì là lạ.

  5. Anh Hoành ơi, nếu như anh nói ở bên trên thì có phải khi người ta sớm khổ thì người ta cũng sẽ sớm khôn hơn không? Vậy tại sao chúng ta đã khổ ( một nghìn năm Bắc thuộc, bao nhiêu năm bị nước ngoài đô hộ) chúng ta đã khôn hơn là kiên cường đánh bại kẻ thù mà nước chúng ta cũng vẫn cứ lẹt đẹt đi sau bạn bè quốc tế?

    Có phải vì mind của mỗi người dân của ta không đủ strong? Mà em được dạy rằng cái mind của chúng ta bản chất nó đều biết đâu là Thiện Ác, đâu là Đúng Sai, chỉ có điều là ta có dám làm theo nó không thôi.

    Vậy thì là tại sao? Có phải nó được ví như khi ta đói thì ta biết chắc chắn cái đích đến của ta là miếng cơm làm ấm bụng, nhưng khi ta đã no rồi thì ta không biết cái đích đến tiếp theo là gì nữa? Hay ta biết nhưng ta chối bỏ? Hay ta thỏa hiệp như thế là đủ? Tại sao lối suy nghĩ ấy lại bị ăn sâu vào máu của dân ta nhỉ? Có liều thuốc nào để trị tận gốc căn bệnh ấy để giúp cho những thế hệ thanh niên “uống” để phòng ngừa không anh?

    • Hi Harmony,

      Các câu hỏi của em rất hay.

      Đương nhiên khổ làm cho người ta trưởng thành và khôn ngoan. Sống đời sung sướng dễ dãi quá, rất khó mà khôn. Nhưng đó là nói chung. Nói riêng thì tùy người. Người có căn cơ sinh ra ở đâu cũng có thể sáng dạ. Như Phật Thích Ca, là con vua, nhưng thấy cái khổ của người khác ngoài hoàng cung là cũng có thể thấm đủ để suy tư và bỏ mọi sự để lên đường học đạo.

      Còn chuyện nước Việt, thì chúng ta rất giỏi chiến tranh. Mà giỏi chiến tranh cho nên dở hòa bình, cũng có lý của nó.

      Cái chính anh thấy là chúng ta rất tự tin về đánh nhau—quyết tử để tổ quốc quyết sinh. Nhưng chúng ta thiếu tự tin về hùng cường—tự tin xem mình như một trong những quốc gia lớn của thế giới. Cho nên tác phong của mình cứ như tác phong (của người dân) của một quốc gia lạc hậu.

      Chúng ta phải tự tin là nếu chúng ta đã vô địch thời chiến, thì chúng ta cũng có thể vô địch thời bình. Người Việt ra nước ngoài đi học thì ai cũng sợ. Anh ở ngay tại Washington nên rất rành người các nước, kể cả chính khách của họ. Vốn liếng thông minh ta có rồi. Chỉ cần tự tin để “act like a queen and they will treat you like a queen”. Mỗi người có tác phong tử tế, đàng hoàng, tích cực, đạo đức, nhân ái like a queen.

      Cái thứ hai là nói chung thì đời sống tâm linh của chúng ta quá yếu, vì (1) vài trăm năm nay các tôn giáo trước (Lão giáo, Khổng giáo, Phật giáo) bị đánh mất tinh túy, nên trở thành áp bức (Khổng giáo), mê tín (Lão giáo), tiêu cực và mê tín (Phật giáo), và (2) hơn 100 nay tôn giáo (với sự góp mặt của Công giáo và Tin Lành) đã bị chính trị hóa quá sức, nên chính trị nhiều hơn tâm linh. Đó là chưa kể mấy mươi năm trước đây đã có chính sách dẹp bỏ tôn giáo, càng nhiều càng tốt. Vì thế, các tôn giáo đã thất bại trong vai trò giáo dục tâm linh của nó.

      Ngày nay có một số dấu hiệu các tôn giáo đã bắt đầu phục sinh lành mạnh. Cho nên ta nên khuyến khích các tôn giáo làm mạnh vai trò tâm linh của tôn giáo. Chú tâm vào trái tim linh thiêng của mỗi con người, để tạo ra những người khiêm tốn, thành thật, nhân ái, tích cực với đời và với người. Bớt chú trọng vào công thức nghi lễ, tăng chú trọng vào việc thánh hóa trái tim của mỗi người. Và tránh xa chính trị càng nhiều càng tốt.

      (Anh chưa từng gặp cha thầy nào mà nói chuyện chính trị mà làm cho anh phục và cảm mến. Hầu như 10 người dính vào chính trị thì hết 9.5 lạc đường tâm linh. Cha thầy mà lạc đường thì lấy ai mà độ tín đồ đây. Chỉ các bậc thánh tăng như Đạt Lai Lạt Ma thì mới làm chính trị mà không bị chính trị làm cho hư đi).

      Việc thực thi kế hoạch lớn nào của quốc gia cũng đều bắt đầu từ một điểm duy nhất—trái tim của mỗi người dân.

      Chú trọng vào trái tim của mỗi người cũng là việc của anh em ta trong Vườn Chuối.

      Em khỏe nhé.

  6. Anh Hoành ơi

    Em lại có câu hỏi: Thế mình có nên coi khổ cũng là một thước đo để cho con người sớm khôn lên không? ( Trước đây em cũng luôn luôn tin khổ, vấp ngã là một trong những thước đo giúp mình trưởng thành lên và cái này nằm rất sâu trong mind của em, nhưng em lại tự hỏi, liệu như thế thì có đúng không?) Nếu không dùng thước đo “khổ” thì còn có thước đo nào khác?

    Nếu thế, những nước vốn đã giàu mạnh, không từng trải qua nhiều chiến tranh và khó khăn như nước chúng ta nhưng họ vẫn là cường quốc là vì tại sao? Có phải khi họ đã giàu, đã đầy đủ những điều basic nhất thì họ lại có lối sống tốt hơn ta? họ lại biết nói những câu positive và encouraging nhiều hơn ta?

    Việt Nam nhà mình không biết có phải vì thấm nhuần chữ “khổ” này mà khi làm gì, nói chuyện với ai, mình rất ít khen, mà luôn chê trước, rất ít nói những lời động viên khuyến khích mà thường nói lời mát mẻ đe dọa để test người khác là chịu đựng bao lâu và chịu như thế nào…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: